Ngày 15-06-2011
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Ơn bình an
Lm Giuse Trần Việt Hùng
08:57 15/06/2011
Xin Thiên Chúa là nguồn bình an, ở cùng tất cả anh em. A-men (Rm 15,33)

Ơn bình an là món qùa quý báu nhất, Chúa Giêsu đã ban cho các Tông đồ và những người tin theo Chúa. Tâm hồn bình an thì luôn thanh thản, an hòa và vui tươi. Sự bình an đích thực chính là ân sủng của Chúa. Chúa chính là nguồn ơn bình an. Khi Chúa giáng trần, các thiên thần đã đồng thanh hát ca: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương."(Lc 2,14). Chúa ban bình an cho người Chúa thương. Chúa là Hoàng Tử Bình An. Hằng năm, vào dịp Lễ Lá, chúng ta nghe người Do-thái ca khen chúc tụng Chúa Kitô: Chúc tụng Đức Vua, Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Bình an trên cõi trời cao, vinh quang trên các tầng trời!(Lc 19,38).

Sau khi sống lại từ cõi chết, Chúa biết các Tông đồ còn lo sợ, nghi ngờ và hoang mang. Mỗi lần Chúa hiện đến với các Tông đồ, Chúa đều ban chúc sự bình an. Thánh Luca ghi lại: Các ông còn đang nói, thì chính Đức Giêsu đứng giữa các ông và bảo: "Bình an cho anh em! "(Lc 24,36). Ơn bình an là ơn cao trọng, Chúa luôn ưu ái ban tặng cho những ai có thiện tâm. Bình an là sự phó thác và tin tưởng hoàn toàn vào sự quan phòng của Chúa. Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em."(Ga 20,26). Chúng ta nhận thấy các tông đồ đang trong cơn bối rối và nghi ngờ, Chúa đã đến ban bình an và xóa tan mọi sợ hãi lo âu. Ơn bình an thật tuyệt vời.

Các dân nước và con người có thể kiến tạo nền hòa bình cho quê hương dân tộc. Sự hòa bình của thế gian chỉ là sự an bình bên ngoài trong sinh hoạt xã hội. Sự bình an của thế gian khác xa với sự bình an đích thực của Chúa Giêsu ban cho các tâm hồn thiện tâm. Sự bình an của Chúa sẽ giải tỏa mọi lo âu và xao xuyến. Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi (Ga 14,27). Chúng ta có thể cầu chúc cho nhau sự bình an, nhưng sự an bình đích thực còn tùy thuộc nơi mỗi tâm hồn xứng đáng lãnh nhận hay không.

Chúa Giêsu sai các môn đệ đi rao giảng và lời đầu tiên mà Chúa Giêsu gởi gắm là: Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: "Bình an cho nhà này! "(Lc 10,5). Món qùa thật quý giá. Lời cầu chúc bình an như cửa ngõ dẫn chúng ta xích lại gần nhau. Khi chúng ta cùng tụ họp quanh bàn thờ dâng lễ, chúng ta được cầu chúc và chia sẻ sự bình an của Chúa Kitô. Trong các thánh lễ, phần đối thoại, linh mục cầu chúc cộng đoàn dân Chúa: Bình an của Chúa ở cùng anh chị em. Và chủ tế tiếp tục mời gọi: Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau. Chúc bình an không chỉ là một nghi lễ mà là một cử chỉ giao hòa, tha thứ và yêu thương.

Người môn đệ của Chúa ra đi với hành trang là sự bình an. Đem bình an đến cho mọi người như Chúa Kitô đã ban bình an cho anh em. Thánh Gioan lập đi lập lại nhiều lần lời cầu chúc bình an của Chúa: Người lại nói với các ông: "Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em."(Ga 20,21). Không có sự bình an trong tâm hồn, chúng ta không thể phục vụ cách hiệu qủa. Khi tâm hồn còn chao đảo, ngờ vực và tính toán hơn thua thì tâm hồn vẫn chưa lặng yên. Tâm hồn an bình là một tâm hồn an hòa, thánh thiện và thư thái nhẹ nhàng.

Nói đến sự bình an là nói đến sự an vui, thành thật, tín trung và thông cảm. Tâm hồn bình an là tâm hồn hạnh phúc. Hạnh phúc là vì tâm hồn không bị quấy rầy, không bị dằn vặt và không bị lo lắng sợ hãi. Khi chúng ta còn vướng mắc trong tội hoặc còn nợ nần vay trả chưa đền bù cả về tinh thần lẫn vật chất. Sự bình an chưa cư ngụ trong tâm hồn của chúng ta. Chúng ta cũng có thể đánh mất sự bình an qua những dối trá, lừa lọc, dấu diếm và làm điều sai trái. Nỗi sợ cứ ám ảnh tâm hồn làm cho chúng ta bất an. Sự gian dối làm chúng ta lo lắng, bồn chồn và sợ hãi. Sự sợ hãi từ tận đáy tâm hồn chứ không phải sự sơ sệt bởi ngoại cảnh. Chúng ta gặp gỡ đối diện với nhau bằng mặt chứ chưa bằng lòng. Còn có cái gì uẩn khúc, gây động và nổi dậy bên trong.

Sự bình an đích thực là tìm được sự xóa nợ đời. Bao nhiêu lỗi lầm và oan trái chúng ta đã gây ra làm tổn thương người khác. Làm sao chúng ta có thể sửa sai và đáp đền. Một sự lừa đảo, một câu truyện xấu làm qùa, một sự dèm pha gian dối và một pha bịa đặt làm mất phẩm giá và danh dự của người khác, làm sao chúng ta có thể đền bù cho cân xứng. Lòng chúng ta sẽ khắc khoải khôn nguôi. Lương tâm chúng ta cứ dằn vặt. Chính chúng ta đang đánh mất sự bình an đích thực trong tâm hồn. Làm sao chúng ta có thể trả hết nợ đời. Chỉ có cách lấy ân trả oán. Lấy đức báo thù. Sự đời vay trả trả vay. Đức ái trọng trên hết. Lấy lòng yêu mến tha thứ bù lấp nơi thù hành, ghét ghen. Sống ở đời, chúng ta ai cũng mặc nợ nhau tình nhân ái. Lấy đức ái mà xây dựng tình người. Chúng ta sẽ tìm được chút bình an.

Khi sống trong sự thật, chúng ta không còn sự sợ hãi và lo lắng. Tâm hồn chúng ta không bị ràng buộc vào những món nợ gian dối ở đời. Thơ của thánh Phaolô gởi cho giáo đoàn Rôma viết: Xin Thiên Chúa là nguồn hy vọng, ban cho anh em được chan chứa niềm vui và bình an nhờ đức tin, để nhờ quyền năng của Thánh Thần, anh em được tràn trề hy vọng (Rm 15,13). Hãy trút bỏ những vướng bận để tâm hồn được giải thoát. Chúa Giêsu ban cho chúng ta sự bình an không phải sự bình an của thế gian. Đây là sự bình an sâu lắng trong tâm hồn. Có nghĩa là chúng ta có Chúa ở cùng.

Trong các thơ gởi cho các tín hữu và các giáo đoàn đều có những lời dẫn nhập đầy tràn bình an và ân sủng: Thánh Gioan viết lời chào: Thiên Chúa là Cha và Đức Giê-su Ki-tô là Con Chúa Cha sẽ cho chúng ta được hưởng ân sủng, lòng thương xót và bình an, trong sự thật và tình thương (2Ga 1,3). Thơ của thánh Phêrô cũng gởi lời cầu chúc: Chúc anh em được đầy tràn ân sủng và bình an, nhờ được biết Thiên Chúa và Đức Giê-su, Chúa chúng ta (2Pet 1,2). Thơ của thánh Phaolô gởi cho Philomen đã viết: Chúc anh chị em được đầy tràn ân sủng và bình an của Thiên Chúa, Cha chúng ta, và của Chúa Giê-su Ki-tô (Phil 1,3).

Mỗi lần Chúa Giêsu chữa lành các bệnh họan tật nguyền cho dân, Chúa cầu chúc họ đi bình an. Khi Chúa chữa cho người đàn bà bị bệnh, thánh Marcô viết: Người nói với bà ta: "Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh."(Mc 5,34) và thánh Luca cũng diễn tả: Đức Giê-su nói với người phụ nữ: "Lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an."(Lc 7,50). Được chữa lành thân xác nhưng quan trọng hơn là chữa lành tâm hồn. Chúa ban cho họ được ơn bình an đích thực. Cũng thế, sau mỗi thánh lễ chúng ta tham dự, trước khi ra về, các vị chủ tế cũng cầu chúc: Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an. Đi trong bình an là đi trong đường lối của Chúa Kitô. Chúng ta sẽ có niềm vui và hạnh phúc trong Chúa và Mẹ Maria. Vì Chúa Giêsu là Hoàng Tử Bình An và Mẹ Maria là Nữ Vương Hòa Bình.

Chúng ta hãy chào nhau bằng lời chào chúc bình an. Lời cầu chúc bình an gắn liền với hành trình cuộc sống, như khi chúng ta chúc nhau thượng lộ bình an, đi bình an và sau cùng là nghỉ yên trong an bình (RIP- rest in peace). Sự bình an là cửa ngõ bước vào hạnh phúc trường sinh. Có sự bình an trong tâm hồn là chúng ta đang được hưởng nếm hạnh phúc nước trời ngay tại trần thế. Chúng ta cần có sự lắng đọng tâm hồn trong sự suy gẫm cầu nguyện mỗi ngày. Cầu nguyện là đường dẫn chúng ta đến sự bình an đích thực. Chúa Giêsu đã cầu nguyện lâu giờ và cầu nguyện nhiều lần mỗi ngày. Chúa Giêsu đã kết hợp mật thiết với Cha của Ngài.

Hãy cầu xin Chúa ở cùng chúng ta và chúng ta ở trong Chúa. Lạy Chúa, xin Chúa dạy chúng con biết chìm đắm trong cầu nguyện, để tâm hồn chúng con được vui hưởng sự bình an thư thái.
 
Hãy yêu đi rồi sẽ biết sự thật
Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa
10:08 15/06/2011
Lễ Chúa Ba Ngôi

Chúa Thánh Thần sẽ dẫn chúng ta đến sự thật toàn vẹn (x.Ga 16,13). Nhờ lời mạc khải của Chúa Kitô, chúng ta biết rằng Thiên Chúa chúng ta tôn thờ là Thiên Chúa duy nhất mà là Ba Ngôi riêng biệt là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Chỉ một Thiên Chúa duy nhất mà là Ba Ngôi. Tuy Ba Ngôi riêng biệt nhưng chỉ là một Thiên Chúa. Một mầu nhiệm vượt quá trí suy của nhân loại.

Vì sao Ba Ngôi mà chỉ là một Thiên Chúa hay vì sao chỉ một Thiên Chúa mà là Ba Ngôi? Xin được trả lời cách thành thật rằng bản thân không biết. Vì tin vào Đức Kitô, Đấng có lời quyền năng và yêu thương tôi cho đến cùng, cho đến chết trên thập giá, nên tôi tin vào lời của Người. Chính Chúa Kitô đã phải trả giá rất đắt, là cái chết thập giá, cho sự mạc khải này trong bối cảnh Do Thái giáo chỉ tin có một Thiên Chúa duy nhất và độc nhất. Chúng ta đừng quên một trong những lý do khiến những người lãnh đạo Do Thái giáo thời bấy giờ đã từng lấy đã ném Chúa Giêsu và lên án tử hình cho Người, vì Người tự cho mình là Con Thiên Chúa, ngang hàng với Thiên Chúa (x.Ga 10,31-33; Mt 26,62-66 ).

Thánh Kinh, đặc biệt Chúa Kitô không cho biết vì sao một Thiên Chúa mà là Ba Ngôi, nhưng đã mạc khải cho chúng ta biết mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi như thế nào. Đó là mầu nhiệm tình yêu liên đới, hiệp thông trọn hảo, đầy năng động và sáng tạo. Và chúng ta, loài thụ tạo cao cả nhất trong các loài hữu hình, ngay trong kiếp lữ thứ này, có thể cảm nghiệm phần nào đó mầu nhiệm ấy, khi sống trong Thánh Thần, Đấng là tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con, giữa Chúa con và Chúa Cha.

“Sự sống đời đời là chúng nhận biết Cha là Thiên Chúa duy nhất và Đức Giêsu Kitô mà Cha sai đến” (Ga 17,3). Làm sao để nhận biết sự thật này nếu không được Thánh Thần, Ngôi Ba Thiên Chúa tác động. Chúng ta đã được nhận làm con trong Đức Giêsu. “Vì là con, nên Thiên Chúa sai Thánh Thần của Con Ngài ngự vào lòng chúng ta và kêu lên: Abba, Cha ơi!” (Gl 4,6). “Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa” (Rm 8,16). Không ai có thể tuyên xưng Đức Kitô là Chúa nếu không được Thánh Thần thúc đẩy (x.1Cor 12,3). Thánh Thần chính là nguồn tình yêu. Vì thế chỉ những ai ở trong tình yêu mới có thể hiểu biết sự thật. Và khi hiểu biết sự thật thì chính sự thật sẽ giải thoát chúng ta và đưa chúng ta vào sự sống đời đời.

Làm sao ta có thể biết nghĩa phu thê là gì khi ta chưa sống hết tình với người phối ngẫu? Làm sao ta có thể biết được thế nào là quê hương khi ta chưa hết lòng hết tâm với vận mệnh quốc gia dân tộc? Làm sao ta có thể biết được giá trị của con người trong cõi nhân sinh này khi ta chưa trải rộng com tim với người đồng loại, với người anh chị em cận kề, nhất là với những người cô thế cô thân? …

Hãy yêu đi rồi bạn sẽ biết nhiều lẽ huyền nhiệm của sự trao ban và đón nhận. Hãy hiệp thông cách thực sự thì bạn sẽ biết thế nào là tình liên đới. Đây là một cái lẽ biết theo nghĩa Thánh Kinh, tức là không chỉ nhìn thấy thực tại, thấy vấn đề bằng trí khôn, mà còn gắn bó thiết thân, chung lưng đấu cật, khi u buồn lẫn khi hoan lạc, lúc thuận lợi cũng như lúc gặp phải nghịch cảnh, gian truân.

Ngay trong cuộc sống này, có nhiều điều mà lý trí phải chào thua. Sự khôn ngoan đích thực không hệ tại ở trí óc, nhưng là ở trái tim. Có thể có trường hợp người ta đâm ra mù quáng vì yêu. Nhưng đó chỉ là thứ tình yêu vị kỷ, nghiêng chiều đam mê vụ lợi hoặc bất chính. Khi đã biết yêu với tình yêu trong sáng, quảng đại quên mình, với một tình yêu bắt nguồn từ tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa thì không một ai là không ở trong ánh sáng. Và chính ánh sáng sẽ soi dẫn chúng ta đến cùng chân lý.

Là kitô hữu, không gì hơn là biết quy chiếu về Tình Yêu Thiên Chúa Ba Ngôi để rồi biết yêu thương nhau bằng:

1. Một tình yêu thúc đẩy ta không chỉ muốn mà còn biết chủ động, tích cực làm cho người mình yêu phát triển và nên hoàn thiện.
2. Một tình yêu thúc đẩy ta tìm mọi cách để cho người mình yêu nên đáng yêu và được nhiều người yêu mến.
3. Một tình yêu thúc đẩy ta nổ lực hết mình làm cho người mình yêu có đủ khả năng và sự nhiệt tình để yêu mến kẻ khác.

Khi ta sống được chút tâm tình yêu mến này, thiết tưởng rằng chúng ta sẽ chẳng còn băn khoăn với câu hỏi tại sao Ba Ngôi mà chỉ một Thiên Chúa, nhưng chúng ta sẽ cảm thấy hạnh phúc vì biết cội nguồn của mình chính là Thiên Chúa Ba Ngôi.
 
Đây là Mình Ta, Đây là Máu Ta
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
23:29 15/06/2011
CHÚA NHẬT LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA KITÔ A
Ga 6, 51-58

Con người sinh ra trên đời luôn cần có lương thực. Thú vật sống trên núi, trên rừng, dưới biển đều phải nhờ lương thực. Mọi sinh vật cũng cần có thức ăn, thức uống mới có thể sinh tồn được. Đối với đời sống tôn giáo cũng vậy, đặc biệt người Kitô hữu được Chúa yêu thương. Chính Ngài đã luôn hiện trong Bí Tích Thánh Thể, để được ở mãi với loài người, với con người, để làm lương thực nuôi dưỡng con người trên đường dương thế trở về quê trời. Chúa Giêsu đã hứa với nhân loại : “ Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời “ ( Ga 6, 58 ).

Giáo lý dạy chúng ta rằng : Bí Tích Thánh Thể là Bí Tích Tình Yêu, Bí Tích của sự hiệp nhất. Thánh Phaolô trong thư thứ nhất gửi giáo đoàn Corintô đã viết : “ Không phải chúng ta đã bẻ bánh để dự phần vào Thân Mình Chúa Kitô ư ! Bởi vì tấm bánh chỉ là một, nên dù chúng ta có nhiều người, chúng ta cũng là một thân thể, vì tất cả chúng ta cùng chia sẻ một tấm bánh đó sao ? “. Khi Chúa mời gọi :” Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy “, Chúa Giêsu muốn mọi Kitô hữu trên trái đất này hãy lập lại cái chết tự hiến vì yêu thương của Người, bằng cả cuộc sống dấn thân và trao ban. Khi Chúa nói : “ Đây là Mình Thầy. Đây là Máu Thầy “. Chúa Giêsu thiết lập Bí Tích Thánh Thể. Giáo Hội luôn lập lại cử chỉ của Chúa Giêsu khi Ngài lập Bí Tích Thánh Thể trong nhà Tiệc Ly. Đây là Bí Tích cao quí Chúa để lại và trao ban cho nhân loại, tặng ban cho mỗi người chúng ta. Bí Tích Thánh Thể cũng là Bí Tích liên kết mọi người Kitô hữu để đời đời con người cảm tạ tri ân Chúa vì Người đã để lại cho nhân loại Bí Tích đem lại sự sống muôn đời. Chúa Kitô hiện diện trong Thánh Thể bao lâu hình bánh rượu còn tồn tại. Đây là mầu nhiệm của đức tin. Bởi vì khi linh mục đọc lời truyền phép thì bánh rượu không còn là bánh rượu nữa nhưng đã trở thành Thịt Máu Chúa.

Chúa Giêsu đã phán : ”...Bánh Tôi sẽ ban tặng, chính là thịt Tôi đây, để cho thế gian được sống “ ( Ga 6, 48-51 ). Chúa Giêsu đã truyền cho các môn đệ tái diễn lại cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Người trên bàn thờ để đem lại ơn cứu độ cho con người. Do đó, Giáo Hội luôn tung hô Chúa Giêsu sau truyền phép : “ Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa đã sống lại, cho tới khi Chúa lại đến “.

Vâng, Bí Tích Thánh Thể là Bí Tích ban sự sống do đó khi rước lễ là chúng ta đón nhận sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô và sự hiện diện thiêng liêng của Ngài vẫn kéo dài trong cuộc sống của chúng ta. Nên, chúng ta phải dọn lòng trong sạch để đón nhận Mình Máu của Chúa Kitô bởi vì việc rước Mình, Máu Chúa giúp đời sống thiêng liêng của chúng ta trở nên vững mạnh, giúp vượt thắng và xa lánh tội lỗi. Việc rước Mình Máu Chúa Kitô giúp tăng triển sự hiệp thông với Chúa Kitô. Sự hiệp nhất, gắn bó với Chúa Giêsu trong Thánh Thể giúp mọi người Kitô hữu hiệp nhất với nhau.Đồng thời Bí Tích Thánh Thể là bảo chứng chắc chắn cho người Kitô hữu đạt tới vinh quang Nước Trời.

Giáo Hội luôn bảo quản Mình Máu Chúa Kitô trong Nhà Tạm để có sẵn Thánh Thể cho những người đau yếu, những người vắng mặt, và cũng để cho mọi người tôn thờ cung kính Thánh Thể khi tới nhà thờ, khi không cử hành thánh lễ vv...

Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô làm cho chúng ta càng lúc càng xác tín hơn Chúa luôn hiện diện trong Bí Tích Thánh Thể. Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận đã luôn yêu mến Thánh Thể và Ngài đã nói : bàn tay của Ngài là bàn thờ, là Nhà Thờ Chính Tòa. Với ba giọt rượu và chút nước. Với miếng bánh miến. Ngài đã làm cho Chúa hiện diện và biến rượu bánh thành Mình Máu Chúa Kitô qua lời truyền phép.

Chúng ta hãy luôn yêu mến Bí Tích Thánh Thể bởi vì Chúa luôn mời gọi chúng ta đón rước Người trong Bí Tích Thánh Thể : “ Thật, Tôi bảo thật các ông : nếu các ông không ăn Thịt và uống Máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình “.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1.Chúa Giêsu đã thiết lập Bí Tích Thánh Thể khi nào ?
2.Khi linh mục đọc lời truyền phép thì bánh và rượu có còn là bánh là rượu nữa không ?
3.Bí Tích Thánh Thể là bí tích nào ?
4.Bí Tích Thánh Thể được cử hành thế nào ?
5.Muốn lãnh nhận Bí Tích Thánh Thể thì phải làm gì ?
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Tweet Catholic và flockNote.com là hai mạng lưới nối kết người Công Giáo
Bùi Hữu Thư
05:18 15/06/2011
Hoa Thịnh Đốn (CNS) -- Truyền thông xã hội đang trở nên một thành phần ngày càng quan trọng hơn trong đời sống hàng ngày tại Hoa Kỳ và trên khắp thế giới, và người Công Giáo đang tìm cách để chiếm được một vai trò độc đáo trong thế giới truyền thông xã hội.

Ông Matt Warner, sáng lập viên Tweet Catholic và tác giả mạng lưới FallibleBlogma.com, nói với Catholic News Service: "Tôi nghĩ rằng Giáo Hội đang theo kịp việc sử dụng truyền thông xã hội bằng các cách thức ngày càng lớn mạnh hơn. Giáo hội hiện này đã nhúng vài ngón chân cái vào nước để thử nghiệm... và tôi thích thú chờ đợi được thấy một vùng nước bắn tung tóe khi Giáo Hội nhẩy ùm vào nước trong một hay hai năm tới."

Là một người Công Giáo viết trên mạng, ông Warner đã có trên 17,000 độc giả, nhưng chính Tweet Catholic của ông trên mạng www.tweetcatholic.com, đã đưa người Công Giáo lại gần nhau trên cái "blog" hoàn vũ.

Tweet Catholic được thành lập năm 2009 để nối kết những người Công Giáo đã dùng Tweet, để họ có thể liên lạc với nhau, chia sẻ tin tức và xây dựng cộng đồng Công Giáo trên Twitter.

Ông Warner giải thích là trong khi Twitter ngày càng được nhiều người ưa thích hơn, ông nhận thấy người Công Giáo đang cố gắng liên kết và tìm kiếm nhau qua đó. Ông đã cấu tạo một mạng lưới giản dị để cho người Công Giáo dùng Twitter có thể tiếp xúc với nhau.

Ông Warner nói: "Việc này trở nên một điểm khởi hành cho rất nhiều người Công Giáo trên Twitter, giúp họ nhẩy vào sinh hoạt Twitter và có thể tìm được vài người Công Giáo ưu tú để noi gương và trình bầy với họ về sức mạnh của Twitter."

Ông Warner cho rằng các mạng truyền thông xã hội như Twitter, cung cấp một cơ hội xuất sắc cho Giáo Hội tham gia và xây dựng các mối tương quan với mọi người.

Ông giải thích: "Truyền thông xã hội không chỉ là một môi trường truyền thông mà còn là một môi trường của các mối liên hệ, giúp Giáo Hội lắng nghe mọi người bằng các phương tiện xưa kia chưa từng có thể hình dung ra được, và giúp Giáo Hội chia xẻ Phúc Âm với mọi người bằng các cách thức mới mẻ."

Ông nói với CNS: Dự án mới nhất của tôi là gia trang www.flockNote.com, một hệ thống mạng lưới "giúp cho tiếp cận được các thách đố về truyền thông của một giáo xứ, giáo phận hay tổ chức Công Giáo."

FlockNote.com được mô tả là "một dụng cụ để đăng ký trên mạng, giúp thu thập các dữ kiện về giáo dân, sắp xếp họ vào các mục vụ khác nhau và xây dựng một hệ thống các danh sách phổ biến để liên lạc với họ qua điện thư, texting, IM, Twitter, Facebook và nhiều hơn nữa."

Các nhóm và cá nhân có thể đăng ký trên mạng này và có thể tải xuống các bản thông tin, các lịch trình, các niên lịch, các mẫu đơn, thiệp mời và bản trưng cầu dân ý. Họ cũng có thể viết lại những phúc đáp cho giáo xứ của họ và nối kết với các mạng truyền thông xã hội khác. Ông Warner đang tiếp thị dự án mới này như "một phương cách mới lạ, và tân tiến để người Công Giáo chia xẻ các tin tức."

Ông Warner đã hợp tác với các nhân vật khác trong Giáo Hội để xây dựng một điạ bàn hoạt động cho truyền thông xã hội và đã thấy có sự thành công tại Nữu Ước. Ông dự trù sẽ phỏ biến các tiết mục mới cho flockNote vào tháng Bẩy.

Ông Warner tin rằng tác dụng của truyền thông xã hội trên đạo Công Giáo có thể to lớn, nhưng sẽ không bao giờ thay thế được "thời gian tiếp xúc trực tiếp", tuy nhiên, sẽ tăng cường cho các mối tương quan diện đối diện."

Ông nói: "Chúng ta có những điệp văn quý báu nhất trên thế giới. Tôi nóng lòng chờ xem những phương cách mới lạ, người Công Giáo sắp sử dụng để chia xẻ những điệp văn này và xây dựng Giáo Hội bằng tất cả những công cụ lạ lùng Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. "
 
Thánh địa: Hạt Dòng Phanxicô mừng lễ thánh Antôn
Nguyễn Trọng Đa
08:41 15/06/2011
Thánh địa: Hạt Dòng Phanxicô mừng lễ thánh Antôn

Có sự tham dự của ca sĩ Ý nổi tiếng Andrea Bocelli

ROMA - "Hạt Dòng Thánh Địa mừng lễ thánh Antôn Pađua” là một tựa đề trên trang mạng Internet của Tòa Thượng phụ Latinh ở Giêrusalem, nhờ công soạn thảo của Mary Malzac.

Bài viết nói, cũng như mọi ngày 13-6, các tu sĩ dòng Phanxicô của Hạt Dòng Thánh Địa đã mừng lễ ngày thứ hai 13-6 kính thánh Antôn Pađua, bổn mạng của mình. Vị giảng thuyết lừng danh của Dòng Phanxicô và Tiến sĩ Giáo Hội thực sự là người bảo vệ Hạt Dòng này kể từ đầu thế kỷ XX, và được cộng đoàn địa phương tôn kính đặc biệt.

Tại Giêrusalem, Linh mục Pierbattista Pizzaballa, OFM, Giám hạt Hạt Dòng, chủ sự Thánh lễ tại nhà thờ Chúa Cứu Thế. Như là truyền thống, nhiều đại diện của nhà chức trách Ý đã có mặt, cũng như đại diện của các Giáo Hội Chính Thống Giáo của thành phố.

Khách hành hương tụ tập rất đông nhân lễ này, cùng với anh em Phan sinh của các tu viện ở Giêrusalem. Đức Giám mục William Shomali, giám mục phụ tá, đại diện cho Đức Thượng phụ latinh Fouad Twal.

Cha Giám hạt đã giảng giải và suy niệm bài đọc thứ nhất, trích từ sách Khôn Ngoan (Kn 7, 7-14), nhấn mạnh sự khác biệt giữa sự khôn ngoan và khoa học. Cha nói: “Sự khôn ngoan là do sự cầu nguyện đòi hỏi, phát sinh từ sự nhận thức rằng mọi sự là đến từ Chúa”. Cha cũng nhắc đến giấy phép mà thánh Phanxicô Átxidi trao cho thánh Antôn, trong đó Người cha Chí ái cho phép vị giảng thuyết dạy thần học, tuy nhiên khuyên rằng đừng lơ là việc cầu nguyện. Cũng vậy, để có sự khôn ngoan, cần phải “cầu nguyện và cầu xin", "yêu thích nó hơn bất kỳ quà tặng nào khác", như Lời Chúa nói.

Năm nay, thánh lễ có sự tham dự đặc biệt của ca sĩ giọng nam cao nổi tiếng của Ý, Andrea Bocelli. Ông đã hát bài "Panis Angelicus" (Bánh thiên thần) của Cesar Franck lúc hiệp lễ, rồi hát bài Ave Maria của nhạc sĩ Schubert trong cuộc rước bế mạc. (Zenit 14-6-2011)

Nguyễn Trọng Đa
 
Roma: Ba người đầu tiên đoạt Giải thưởng Ratzinger
Nguyễn Trọng Đa
08:42 15/06/2011
Roma: Ba người đầu tiên đoạt Giải thưởng Ratzinger

Một giáo dân Ý, một linh mục Tây Ban Nha, một đan sĩ Xitô Đức

ROMA - Ba người đầu tiên đoạt giải thưởng Ratzinger là một giáo dân Ý, Manlio Simonetti, một linh mục Tây Ban Nha, Olegario González de Cardedal, và một đan sĩ Xitô Đức, linh mục Maximilian Heim, tất cả các vị được chọn bởi vì thần học của các vị bám vào thực tế.

Giải thưởng này được thiết lập bởi "Quỹ Vatican Joseph Ratzinger – ĐTC Biển Đức XVI", vốn do ĐTC thành lập hồi tháng 3-2010.

Những người đoạt giải đã được giới thiệu sáng 14-6 tại Vatican bởi Đức Hồng Y Camillo Ruini, chủ tịch của “Giải thưởng Ratzinger" và Uỷ ban khoa học của "Quỹ Vatican Joseph Ratzinger - ĐTC Biển Đức XVI"; bởi Đức Giám mục Giuseppe Antonio Scotti, chủ tịch của "Quỹ Vatican Joseph Ratzinger - ĐTC Biển Đức XVI"; bởi Giáo sư Stephan Otto Horn, chủ tịch của "Joseph Ratzinger-Papst Benedikt XVI - Stiftung” và là thành viên của "Quỹ Vatican Joseph Ratzinger - ĐTC Biển Đức XVI", và bởi giáo sư Giuseppe Della Torre, Viện trưởng Viện Đại học Roma LUMSA.

Giải thưởng - 50.000 euro cho mỗi người đoạt giải - sẽ được ĐTC trao lần đầu tiên vào ngày 30-6, trong Phòng Clementine của Dinh thự tông đồ, trong một buổi lễ gồm có một bài thuyết trình của linh mục Heim và "bài phát biểu chính" của ĐTC Biển Đức XVI, theo Đức Giám mục Scotti.

Đức Giám mục Scotti cũng nhấn mạnh rằng một trong các đóng góp tư nhân đầu tiên đến với Quỹ là của một phụ nữ Pháp ở Paris. Khi gửi một tấm séc 500 euro, sau khi bà đã nghe nói về Quỹ này, bà nói thêm trong thư gửi đến Quỹ rằng bà mới nghe nói đến việc thành lập Quỹ và Giải thưởng, và bà rất vui mừng đóng góp một phần nhỏ, không chỉ cho ĐTC Biển Đức XVI, mà còn bởi vì bà thấy ở đó "một điều gì mới và đầy tương lai". Bốn đóng góp tài chính của các công dân Pháp, trong đó có một người ở Marseille, đã được chuyển đến Quỹ.

Đức Hồng Y Ruini nêu ra các tiêu chuẩn được Ủy ban khoa học thông qua: sự xuất sắc, sau đó việc ứng viên đã là nổi tiếng không mấy quan trọng, mà công trình của họ phải là hứa hẹn. Cuối cùng, không buộc ứng viên phải là người Công giáo. Họ có thể thuộc các phái Kitô giáo khác, miễn là công trình của họ hội tụ trên nguyên tắc cơ bản của các phái khác.

Về ông Manlio Simonetti, giáo dân Ý 85 tuổi, Đức Hồng Y Ruini nhấn mạnh rằng ông là một chuyên viên về văn chương Kitô giáo cổ xưa và giáo phụ học, ông là “một trong những người có uy thế nhất về nghiên cứu Kitô giáo thời sơ khai”.

Linh mục Olegario González de Cardedal, người Tây Ban Nha 76 tuổi, giáo sư thần học hệ thống, giảng dạy tại Đại học Công giáo Salamanca. Là thành viên của Ủy Ban Thần Học Quốc Tế, cha chủ yếu làm việc về Chúa Ba Ngôi và Kitô học, về các mối quan hệ giữa thần học và nhân chủng học, đặc biệt về sự đối đầu giữa đức tin và vô tín ngưỡng.

Linh mục Maximilian Heim, 50 tuổi, quê ở Bavaria, Đức, viện trưởng đan viện Xitô Heiligenkreuz, Áo, cách Vienna 25 km về phía tây nam, và giáo sư thần học cơ bản và tín lý. Cha là thành viên của câu lạc bộ các cựu sinh viên của Joseph Ratzinger, và cha đang giám sát việc xuất bản các tác phẩm hoàn chỉnh của Ngài.

Về phần mình, Giáo sư Giuseppe Della Torre nói rằng mục đích của Giải thưởng nhằm khuyến khích sự tham gia trong các nghiên cứu thần học, vốn không chỉ là sân vuông cho các ứng viên linh mục, nhưng mở cửa ra cho tất cả mọi người đã rửa tội. Ông nhấn mạnh rằng kiến thức thần học phải tìm lại vị trí của nó trong bối cảnh của các kiến thức khác, kiến thức khoa học, mà còn kiến thức về nghệ thuật nữa… (Zenit 14-6-2011)

Nguyễn Trọng Đa
 
Cựu sinh viên của Giáo sư Ratzinger suy nghĩ về việc Truyền giáo mới
Phạm Kim An
08:43 15/06/2011
Cựu sinh viên của Giáo sư Ratzinger suy nghĩ về việc Truyền giáo mới

Một nữ thần học gia và một thành viên của Cộng đoàn Emmanuel sẽ nêu chứng từ

ROMA – Mủa hè này, các cựu sinh viên của Giáo sư Ratzinger sẽ suy nghĩ và học hỏi việc Truyền giáo mới. Một nữ thần học gia, Hanna-BarbaraGerl-Falkowitz, và một thành viên của Cộng đoàn Emmanuel được mời nói chứng tá của mình trong mùa hè này tại Castel Gandolfo.

Linh mục Horn nói với hãng tin Zenit rằng khóa học tới sẽ diễn ra vào ngày cuối tuần cuối cùng của tháng tám (26-28 tháng Tám): ĐTC Biển Đức XVI sẽ chủ sự thánh lễ chủ nhật 28-8. Chủ đề là sự Phúc âm hóa mới.

Hai khách mời: một nữ giáo dân, bà Hanna-Barbara Gerl-Falkowitz, chuyên viên về Romano Guardini, và các mối quan hệ giữa triết học và văn hóa, giáo sư tại Dresden - Đông Đức cũ - và quen thuộc với các môi trường thế tục (xem Zenit, ngày 21-7-2010 về cuộc phỏng vấn với bà), và một giáo dân, thành viên người Áo của Cộng đoàn Emmanuel, Otto Neubauer.

Trong câu lạc bộ đầu tiên của các cựu sinh viên của Giáo sư Ratzinger – tại Bonn, Münster, Tübingen, Regensburg - "Ratzingerschülerkreis", nay mới thêm một câu lạc bộ gồm các cựu sinh viên không trực tiếp học với Giáo sư Ratzinger (chẳng hạn một trong các người đoạt Giải thưởng Ratzinger năm nay, Linh mục Heim), đó là các nhà thần học đã nổi tiếng vì học thần học của Ngài. Họ tham gia với “câu lạc bộ” đầu tiên - được chính Đức Hồng Y Ratzinger thành lập – là các sinh viên trực tiếp đã đến tham dự các khóa học mùa hè tại Castel Gandolfo. (Zenit 14-6-2011)

Phạm Kim An
 
Thư ngỏ gửi ông Rick Santorum - Ứng cử viên Tổng Thống Hoa Kỳ
Nguyễn Kim Ngân
21:22 15/06/2011
THƯ NGỎ GỬI ÔNG RICK SANTORUM - ỨNG CỬ VIÊN TỔNG THỐNG HOA KỲ

Kính ông Santorum:

Hôm 6 tháng 6 vừa qua, tôi hết sức vui mừng khi được tin ông quyết định ra tranh cử chức vụ TT Hoa Kỳ vào năm 2012, đại diện cho Đảng Cộng Hòa, cùng một lượt với sáu vị khác trong đảng.

Tôi rất thích cái tít mà tờ New York Times đã cho chạy: “’Người Chiến Sĩ Văn Hoá’đang tìm cách mở rộng chiến tuyến.” Nó lập tức thu hút sự chú ý của tôi. Thực ra, tên tuổi của ông còn khá lạ lẫm đối với nhiều người. Riêng tôi, lần đầu tiên nghe biết tên ông là vào năm ngoái, hãng thông tấn CAN có đăng tin ông và phu nhân (Karen) được Franciscan University of Steubenville (Ohio) trao tặng Huân Chương Poverello--tức ‘Người nghèo bé nhỏ,’ ám chỉ Thánh Phanxicô Assisi--vì công sức ông bà đã bỏ ra trên mặt trận văn hóa được đánh giá là “xuất sắc” dưới khía cạnh nhân chứng phò-sự-sống và phò-gia-đình. Huân chương này là phần thưởng cao nhất được Viện Trưởng Viện Đại Học trao tặng trong buổi tiếp tân chính thức ngày 11 tháng 3 năm 2010 tại Country Club của Quốc Hội thuộc thành phố Bethseda, Maryland. Khi trao Huân Chương cao qúy này cho ông bà, LM Chưởng ẤnTerence Henry, TOR, đã dõng dạc tuyên bố: “Hai vị này là những vị anh hùng trong lãnh vực phò-sự sống. Franciscan University vui mừng vinh danh họ, nhất là trong thời buổi hiện nay, khi người ta đang ra sức tấn công vào những phần tử yếu đuối và dễ tổn thương nhất của xã hội. Chứng tá của các chiến sĩ phò-sự sống như nhị vị đây thúc đẩy chúng ta tiếp tục chiến đấu trong cuộc chiến xứng đáng.” Được biết trước đây, Mẹ Têrêsa thành Calcutta (nay là Chân Phước), cũng đã được truy tặng Huân Chương này.

Vì chưa rõ về ông lắm, thành ra nhân dịp này tôi cố gắng tìm hiểu chút ít về thân thế sự nghiệp cũng như gia đình ông để mình dễ nói chuyện với nhau. Chỗ nào sai sót, xin ông bổ túc và điều chỉnh sau. Được biết ông thuộc phe bảo thủ Đảng Cộng Hòa tại Pennsylvania, năm nay mới 53 mùa xuân xanh. Sau khi làm Dân Biểu Hạ Viện năm 1990, ông đã tiếp tục trúng cử chức Nghị Sĩ Liên Bang từ năm 1995 đến 2007. Ông là tác giả luật chống phá thai bán phần, cũng như đóng góp nhiều vào việc thông qua luật Bảo Vệ Trẻ Sơ Sinh Còn Sống, luật chống Bạo Hành dành cho các nạn nhân chưa được sinh ra, và luật chống chứng Tự Kỷ. Tôi cũng biết ông đã cống hiến nhiều công sức và tài chánh trong cao trào phòng chống bệnh liệt kháng (AIDS) tại Phi châu, cũng như tranh đấu bảo vệ quyền tự do tôn giáo và nữ quyền trong các thể chế độc tài hiện nay trên thế giới. Hiện nay ông đang làm cho một đài phát thanh, vừa viết báo và làm việc tại Trung Tâm Chính Sách Đạo Đức Công Cộng. Tác phẩm bán chạy nhất năm 2005 của ông mang tựa đề “It Takes A Family—Cần Đến Một Gia Đình”.

Trong khi đó, bà nhà Karen vừa là một y tá, vừa là một luật sư. Là y tá, bà đã phục vụ lâu năm trong dưỡng đường chăm sóc đặc biệt dành cho các trẻ sơ sinh thiếu tháng hoặc ốm yếu bệnh nạn. Với tư cách luật sư, bà đã trở thành một thành viên tích cực của Luật Sư Đoàn Pennsylvania. Ngoài ra, với kinh nghiệm của một người mẹ có bẩy người con, bà đã hoàn thành tác phẩm “Letters to Gabriel--Những lá thư gửi Gabriel” nói lên tình yêu và nỗi đau khổ khi cả gia đình trải qua kinh nghiệm về sự sinh non và chết trẻ của một người con mang tên Gabriel.

Xem ra, gia đình ông bà như thế thật hạnh phúc, với một đời sống Công giáo đạo đức, rập khuôn Thánh Gia Thất Nazaret, dùng thế giá của mình nhằm bênh vực và đề cao các giá trị nhân bản, xã hội và Công giáo chân chính, thiết tưởng thật xứng đáng trở thành mẫu mực cho các gia đình.

Thông điệp cốt lõi ông muốn gửi đến toàn dân Hoa Kỳ là niềm tin vào ‘exceptionalism—chủ nghĩa xuất chúng’ của Mỹ quốc, thuật ngữ ông dùng ám chỉ nỗ lực và dấn thân của người dân Hoa Kỳ chính danh dành cho “sự sống, tự do, và mưu cầu hạnh phúc.” Tiếc thay, cái thứ triết lý đơn giản này, theo ông, lại không được vị đương kim TT Hoa Kỳ chia sẻ, bởi vì vị đương kim TT đã và vẫn còn là một “tai họa” trong hầu hết mọi khía cạnh, do việc ông ta chỉ tin vào sự vĩ đại của chính quyền, mà không tin vào sự vĩ đại đáng nể của chính người dân nước này. Do đó, ông muốn “nhắc nhở mọi người phải kiểm điểm lại xem mình là ai, mình đã đến được nơi đây bằng cách nào, và nhất là biết mình phải làm gì để cưỡng đoạt lại chân tính của mình.”

Một nét chân tính của người dân Hoa Kỳ, theo ông, chính là niềm tin vào Thượng Đế, biết đặt nặng tầm quan trọng của tôn giáo trên nền dân chủ Mỹ quốc. Phải, thưa ông Rick Santorum, tôi hoàn toàn đồng ý với ông về quan điểm này. Và cũng chính vì nó mà tôi mới mạo muội viết thư này cho ông đó. Để tôi tạm bàn với ông chút xíu nhé: Không có một nước nào trên thế giới này lại in cái câu bất hủ “In God We Trust—Chúng Tôi Tin nơi Thượng Đế”—trên đồng tiền của nước mình, ngoại trừ nước Hoa Kỳ. Mà in trên đồng tiền, chứ không phải trên bất kỳ cái gì khác. Hóa ra, dân chúng Hoa Kỳ là dân “có đạo” nhất thế giới; họ đã biến đồng tiền—vốn tượng trưng cho uy lực thế gian này—thành phương tiện để tuyên xưng niềm tin của mình vào Thượng Đế. Qua dấu chứng này, dân Hoa Kỳ muốn hô lên cho thế giới biết rằng: cho dù tiền bạc có sức mạnh vô song—là tiên là Phật chăng nữa—thì Thiên Chúa còn dũng mãnh hơn cả tiền bạc. Phải chăng sự tuyên tín mãnh liệt và công khai mà dân chúng Hoa Kỳ đặt nơi Thiên Chúa đã khiến cho Ngài không thể không chúc lành cho dân tộc này, không thể không biến vùng đất này trở thành miền đất hứa tân thời, miền đất của cơ hội, của tự do dân chủ và phú cường. “Có đất nào như đất ấy không?”, lời thơ của một thi sĩ lỗi lạc của VN chúng tôi, tuy viết ra trong một mạch văn và một ý nghĩa khác, nhưng sao lại áp dụng quá đúng vào đất nước Hoa Kỳ này đến thế? Quả vậy, có mấy ai chưa từng mơ được sống ở đất nước này? Hoặc nếu không được sống thì ít ra cũng được một lần đặt chân đến, để chỉ ngắm xem một cái rồi có chết cũng đành lòng! Như thế thì có khác chi thiên đàng hạ giới? Quả là chẳng có đất nào như đất ấy đâu!

Ấy thế mà càng ngày càng có nhiều người muốn xóa bỏ dòng chữ độc đáo bất hủ ấy trên đồng tiền họ tiêu hàng ngày, cho dù họ đã gạt bỏ câu nói ấy ra khỏi tâm can mình từ lúc nào rồi, và cho dù trong thực tế đời sống, họ đã hoàn toàn dứt điểm lời tuyên tín ấy từ hồi tám đế rồi. Thật đáng tiếc, những kẻ đó đang mặc nhiên gieo rắc tai họa xuống cho chính mình, cho dân tộc này, và cho cả loài người.

Tôi rất tâm đắc với lời ông nhắc nhở người dân Hoa Kỳ về chân tính của mình là phải củng cố niềm tin vào Thượng Đế. Từ nỗi trăn trở này, ông đã trở thành chiến sĩ của nền văn minh sự sống, của nền văn hóa gia đình. Hẳn nhiên ông phải khai chiến với lũ giặc phá thai và đồng tính, một mặt trận ngày càng khốc liệt bởi vì nó chủ trương lối đánh chắc ăn, nấp dưới lớp áo an toàn của nữ quyền, bình đẳng, tự do, dân chủ và không kỳ thị. Toàn là những lớp vỏ sắc như dao cau, đụng vào chỉ có đứt tay và đổ máu. Xin ông nhớ bảo trọng!

Ngoài thông điệp cốt lõi là nhắc nhở dân chúng Mỹ trở về với nguồn chân tính của mình, tôi biết ông và bộ tham mưu đã chuẩn bị chu đáo về đủ mọi vấn đề, từ kinh tế, an sinh xã hội, bảo hiểm sức khỏe, công ăn việc làm, cho đến an ninh quốc phòng, và chính sách ngoại giao, lãnh vực nào cũng phải có viễn kiến và kế hoạch hành động. Ông đang cố gắng làm công việc đội đá vá trời. Càng cảm phục ông, tôi càng thương ông, bởi thấy ông đã chọn cho mình con đường gai góc và cheo leo mà đi, thay vì cứ sử dụng chiêu bài mỵ dân và ăn nói làm sao để khỏi bị coi là “politically incorrect—phản động, bảo thủ.”

Dù sao chăng nữa, tôi hứa sẽ ủng hộ ông, không phải vì ông thuộc Đảng Cộng Hoà đâu nhé, mà vì lập trường “đạo gốc chân chính” của ông. Hình như ông là con cháu di dân từ Ý qua Mỹ thì phải? Còn tôi đây là dân bắc-kỳ di-cư năm-tư vượt-biên sang đây. Nếu thế thì mình cùng là dân di cư con nhà có đạo cả. Một lần nữa, tôi ủng hộ ông và rất mong ông lọt qua vòng đầu là được đề cử, rồi cứ thế tiến tới nữa. Một người như ông, đối với tôi, thực sự rất xứng đáng trở thành Ứng Cử Viên Tổng Thống (ƯCVTT) Hoa Kỳ. Để tôi giải thích thêm chút ít.

Ông phải là ƯCVTT để đại diện cho tiếng nói của đa số thầm lặng, của những người thấp cổ bé miệng như chúng tôi, chẳng làm sao nói lên được sự thật về đạo làm người, về nền văn hoá đạo đức, về truyền thống tốt đẹp và tích cực của đời sống hôn nhân và gia đình, được Thiên Chúa an bải từ tạo thiên lâp địa đến nay, về những nguyện vọng thầm kín của mình là được sống trong một xã hội an toàn, nhân ái, tự do và công bằng.

Ông phải là ƯCVTT để nói thay cho chúng tôi rằng chúng tôi không đồng ý với những lời hứa cuội cũng như những tuyên bố bừa bãi của các chính khách chuyên mỵ dân để kiếm phiếu, càng không đồng ý với những kiểu sống bê tha phóng túng của kẻ có chức (xin miễn đọc lái!), lợi dụng quyền hành và lạm dụng tiền thuế của nhân dân để âm thầm lập ‘phòng nhì’ hay vui chơi với kiều nữ chân dài.

Ông phải là ƯCVTT để nói dùm chúng tôi rằng khi thiên hạ đua nhau ly dị thì không có nghĩa những kẻ đã kết hôn mà còn tiếp tục ăn đời ở kiếp với nhau đều là những kẻ ngu dại cả; rằng khi việc cấm ‘ông lấy ông, bà cưới bà’ bị ông quan tòa ấm ớ tức tưởi lên án là vi hiến, bất chấp đa số đã bỏ phiếu cấm chỉ, thì không có nghĩa hôn nhân nam nữ truyền thống sẽ đương nhiên trở thành lố bịch; rằng đang khi thiên hạ lẳng lặng tiêu diệt các bào thai một cách vô tội vạ, thì những thai phụ ngày đêm chăm sóc bào thai của mình được khỏe mạnh và sinh ra sao cho mẹ tròn con vuông sẽ đều là những kẻ chẳng hiểu biết gì hết; rằng khi thiên hạ cổ võ nam nữ yêu vội sống thử thì những việc như dự bị hôn nhân, tìm hiểu đứng đắn sẽ chẳng còn ý nghĩa gì cả; rằng khi thanh niên thiếu nữ hè nhau bỏ lễ Chúa Nhật ở nhà coi đấu bóng hay đi chơi thoải mái, thì những nam phụ lão ấu đi lễ nhà thờ đều là những kẻ vô công rỗi nghề…vân vân và vân vân.

Ông phải là ƯCVTT để cứu vãn đất nước này khỏi lao đầu xuống vực thẳm khi cố tình thử thách Thiên Chúa bằng những thói kiêu căng của loài người, tuy tiến bộ vượt bực về khoa học kỹ thuật, nhưng quá khờ khạo và dửng dưng về mặt đạo đức tâm linh, cứ tỉnh bở sống y như thể không hề có Thượng Đế ở trên cao. Như thế có nghĩa là giúp cho dân tộc và đất nước này tiếp tục được hưởng nhận ơn trời mưa móc để mãi mãi là chốn thiên đàng hạ giới thật sự, nơi công bằng, tự do và nhân ái nở rộ như một vườn hoa muôn sắc.

Thân chúc ông những ngày vận động không mỏi mệt, được nhiều người ủng hộ và thành công mỹ mãn.

Một người hâm mộ ông,

Nguyễn Kim Ngân
 
Top Stories
Pope: If man abandons God, he becomes a slave to the totalitarianism and idolatries of our time
AsiaNews
10:21 15/06/2011
Vatican City (AsiaNews) - Man should worship only God, because there where God disappears, man becomes the slave of idolatry, as shown by the totalitarian regimes in our time, the slave of idolatry and various forms of nihilism that make man an addict to idols and enslave him”. This was Benedict XVI’s warning drawn from the biblical story of Elijah the prophet, "moved by God to bring people to conversion”, to thousands of people who attended the general audience today.

Continuing in his catechesis on prayer the Pope focused on the passage from the Bible that recounts the prophet's prayer on Mount Caramel, where "all of his power as an intercessor is revealed, when before all his people, he prayed to the Lord to manifest Himself".

In the ninth century BC, Israel was living in "open syncretism" and the people "alongside the Lord worshiped Baal, the reassuring idol who was believed to bestow the gift of rain, life to the fields, and fertility to the cattle: people sought safety in the god in the comprehensible and predictable from whom they expected prosperity in exchange for sacrifices”.

Idolatry - said Benedict XVI - is the constant temptation of the believer, who fools himself into believing that he can serve two masters, who tries to serve the Almighty placing his trust in impotent man-made gods”.

"Elijah challenged the priests of Baal: two altars are prepared and prayers are said: "the true God manifests Himself consuming the offerings with fire". They are "two completely different ways of praying" to "provoke God's answer the idolaters of Baal, dance, shout", they "rely on themselves," and "in an illusory attempt to bend him to their own will, they inflict wounds on themselves with spears, to the point of covering themselves in blood, a dramatically ironic gesture, because in seeking a sign of life from their god they cover themselves with blood, which is a sign of death". But the idol, "conceived by man as something to be used and managed by his won strength remains silent." "The worship of idols instead of opening the hearts to otherness that allows us to go out from the narrow horizons of selfishness, closes the person into the exclusive and desperate circle of the search for self."

Elijah, who has "the purpose of bringing the lost people back to God", built another altar using 12 stones, one for each of the tribes of Israel. "These stones represent all of Israel and the memory of the entire history which the people have witnessed." "The altar is the sacred place that indicates the presence of the Lord, but those stones represent the people." "But the symbol needs to become reality, the people need to recognize their God, so Elijah asks God to manifest Himself." The stones are also a reminder of God's faithfulness. Hence the prayer "O Lord, answer me, that this people may know that You, O Lord, are God, and convert their hearts”.

"Elijah asks God what God what He wants to do, to manifest Himself in all his mercy and that is what happens”: the fire descends burning all of the offerings and the altar too. "The fire, this element which is both necessary and terrible, now serves to indicate the love of God made manifest. The Lord answered unequivocally, even drying all the water that had been poured around. "

The episode, explained the Pope, points to " the priority of the first commandment: to worship only God", and then conversion, "the fire of God that transforms our hearts." Finally, there is "the shadow of the future", "a step toward Christ, here we see the real fire, love unto the Cross."

(Source: http://www.asianews.it/news-en/Pope:-If-man-abandons-God,-he-becomes-a-slave-to-the-totalitarianism-and-idolatries-of-our-time-21838.html)
 
Tin Giáo Hội Việt Nam
Truyện chung quanh một người nằm xuống
Vũ Văn An
07:13 15/06/2011
Nói đến người nằm xuống, người ta thường nghĩ tới một chiến sĩ ngoài mặt trận hay một nhà tranh đấu nào đó mệnh chung vì chính nghĩa của mình. Người mà tôi nói tới không thuộc cả hai loại người vừa nói, nhưng thiển nghĩ ta vẫn có thể dùng chữ nằm xuống để nói về cái chết của ông.

Tên ông là Bill, một người sinh trưởng ở Úc. Mãi sau này, nghĩa là lúc ông gần qua đời, tôi mới biết tên đầy đủ của ông, nhưng đối với đa số đồng hương quen biết ông của tôi, thì dù có cho biết tên đầy đủ, họ vẫn nói: “à, Ông Bill”. Nên tôi vẫn gọi ông là Ông Bill.

Đúng ra, tôi không nên viết về ông, vì ông là người rất ít nói về mình, nên tôi hiểu về ông rất ít, ít đến gần như không có gì để viết. So với nhiều đồng hương của tôi, tôi là người biết ông muộn và ít hơn cả. Tôi tới Sydney năm 1981, không có ý niệm gì về ông Bill cả, vì chưa lần nào được gặp ông. Cho mãi tới giữa hay cuối thập niên 1990, mới tình cờ được gặp ông nhân một buổi liên hoan tại nhà người con rể tôi. Và từ đó, tôi được gặp ông luôn, mỗi năm cũng có đến 3, 4 lần: bất cứ dịp nào có tiếp đãi tại nhà con rể tôi, tôi đều được gặp Ông Bill. Ông hơn tôi mấy tuổi, coi như đồng trang đồng lứa, tôi lại lõm bõm chút tiếng Anh, nên chúng tôi hay nói chuyện với nhau, về đủ mọi vấn đề. Nhờ thế biết ông ngày xưa dạy học, có hoạt động cho Hội Thánh Vincent de Paul một thời gian, sau bỏ, không biết vì lý do gì. Nhưng khi đề cập tới Hội, ông hay lắc đầu, như không đồng ý triết lý vận hành của Hội hiện nay. Tôi không dám hỏi thêm, chỉ cho rằng có lẽ “ngày xưa bao giờ cũng là thời vàng son” chăng. Tuy nhiên, nhiệt tâm giúp người của ông thì vẫn như xưa, có khi hơn là đàng khác. Vì thực ra “xưa” kia của ông, nào tôi có biết gì.

Chỉ nghe người khác kể lại, chứ bản thân ông, ít nhắc lại chuyện cũ. Tôi có quen biết với những người gặp ông ngày trước và được ông tận tình giúp đỡ. Ông thuộc nhóm những người Công Giáo Úc đầu tiên chào đón những người Việt tị nạn đầu tiên trên đất Úc, săn sóc, giúp đỡ họ cả sau khi họ đã dọn ra “ở riêng”. Những người đó lúc nào cũng quí mến ông, có người coi ông như anh em, đi lại chuyện trò thân tình, cho đến tận ngày ông qua đời. Sở dĩ tôi viết bài này là để đề cao các đồng hương đầy tình nghĩa của tôi với những người từng giúp đỡ họ hay quen biết họ.

Cho đến ngày các trung tâm di dân (migrant hostels) không còn tiếp nhận ồ ạt các đợt người Việt Nam tị nạn nữa, thì Ông Bill dành căn nhà của ông ở phía nam Sydney cho các người tị nạn lẻ tẻ từ Việt Nam qua. Nhiều gia đình cư ngụ ở nhà ông cả 5,6 năm trời, được ông coi như người nhà, tận tình giúp đỡ, sẵn sàng dùng xe chở họ đi giải quyết mọi việc hàng ngày. Điều này làm tôi nhớ lại một người Úc khác tên David, cư ngụ ở vùng Douglas Park cũng thuộc ngoại ô Sydney: dành trọn căn nhà cho trên 10 thiếu niên Việt Nam hồi đầu thập niên 1980, lo việc ăn học đầy đủ cho các em. Điều oái oăm là 2 đứa con của vợ chồng David, dù cũng trong tuổi thiếu niên, nhưng lại không cư ngụ với bố mẹ. Có lần, David kể: nó (đứa con gái 16 tuổi) đi sống với thằng bồ, bị thằng này đánh, nó về khóc lóc với ông bác. Vốn là một võ sĩ, ông bác đến cho thằng kia một trận. Nhưng chứng nào tật ấy, mấy hôm sau, thằng nhỏ lại dở thói vũ phu với con nhỏ. Hỏi con nhỏ: cả một triệu thằng con trai khác, sao mày lại chọn nó. Con nhỏ chỉ cười và tiếp tục sống với thằng bồ.

Ông Bill cũng vậy. Nhưng số phận ông hẩm hiu hơn David nhiều. Ông mất cả bày con 6 người và cả người vợ nữa, dù họ vẫn còn hiện diện trên trần gian, ngay tại thành phố này. Ông không bao giờ nói đến chuyện vợ con. Nên tôi không rõ nguyên nhân của thảm kịch. Chỉ biết: đã từ lâu, ông không còn liên lạc gì với họ nữa. Thậm chí, từ ngày, sau khi bị đột qụi, phải vào bệnh viện từ đầu năm 2011 cho đến lúc qua đời đầu tháng 6, ông không được một ai trong số họ tới thăm, ngoại trừ người con trai út, nhưng lúc đó, ông đã gần như không biết gì. Một trong những người con gái của ông, khi được thông báo, đã trả lời: “No Way could I see him” (không có cách chi tôi gặp ông ấy được). Có điều, chính Ông Bill dường như cũng muốn thế. Ông không hề mong muốn được nhìn thấy vợ con. Người con rể của tôi, người được ông đề cử giữ “power of attorney” và là “guardian” của ông, còn cho hay: trong di chúc, ông nói rõ: “no provision for my wife and my children” (không có cấp khoản nào cho vợ và các con tôi).Và điều đó, đối với tôi, mới thực sự là thảm kịch. Nhiều người quen biết với ông và coi ông như anh em có cho tôi chi tiết này: vợ con ông cho rằng ông bỏ bê gia đình và hình như sống với các phụ nữ Việt Nam và có con với họ.

Bản thân tôi không tin Ông Bill có khoản sau. Khoản trước thì là nhận định chủ quan. Tôi không dám đụng tới. Nhưng khoản sau, thì không thể đúng được. Trước nhất, tôi vẫn tin Bill là người chính trực, hết sức thẳng thắn. Thấy điều gì không đúng, Bill không làm và không ngần ngại nói ra. Như năm 2008, lúc Sydney có Ngày Giới Trẻ Thế Giới, tôi bảo tôi sẽ tham dự buổi canh thức và thánh lễ bế mạc với Đức Giáo Hoàng tại trường đua Randwick, nên chỉ phải đóng góp rất ít so với những người khác tham dự cả tuần. Bill nói: trả tiền để được cầu nguyện với “Pope”, à, cái đó không bao giờ có đối với tôi! Thứ hai, ông vẫn thực hành đạo một cách tích cực. Sau khi bán căn nhà ở phía nam Sydney, ông dọn về phiá tây nam thành phố, ngụ tại nhà một phụ nữ Việt Nam trước đây từng cư ngụ nhà ông khá lâu. Nhờ thế, những người quen biết ông xưa có dịp gặp lại ông thường xuyên hơn, cùng đi lễ với ông, thấy ông rước lễ sốt sắng. Bill chỉ làm thế từ trong tấm lòng của mình. Tôi tin như vậy. Thứ ba, nếu ông sống như “de facto” với một phụ nữ Việt Nam nào đó và lại có con nữa, thì đây là dịp bằng vàng để họ “đào mỏ” vì thú thực Bill là người, nhiều thì không có, nhưng nửa triệu tiền mặt thì có do tiền bán căn nhà đã nhắc trên đây, chưa kể những khoản có thể có khác như hưu trí, bảo hiểm nhân thọ, cổ phiếu, đầu tư… Ai dại gì mà lại ngậm tăm để thiệt cho mình và cho đứa con? Trên thực tế, không hề có ai xuất hiện để làm việc này. Vả lại, một người công chính như Bill không thể nào lại không nhận đứa con của mình sau khi 6 đứa con kia không nhìn nhận mình nữa.

Không dễ gì thuyết phục được một thái độ quá cương quyết của vợ con Ông Bill. Xét cho cùng cả ông lẫn người nhà đều là những người khó thay đổi. Nói ra thảm kịch của Ông Bill không phải để đổ lỗi bênh vực. Mà chỉ để nói tới một thứ “lateral damage” như kiểu nói của quân sự hiện nay từ ngày có chiến tranh Việt Nam. Vạ lây. Của hoạt động tông đồ. Giúp người mà quên cả giúp mình. Bill nằm xuống, vẫn không ai trong gia đình cận kề của ông tới lo chung sự, ngoài hai người anh nay đã khá cao niên, cao niên đến nỗi, Ông Bill không dám cử giữ “power of attorney” hay làm “guardian”.

Hai vai trò đó “vô tình” do người con rể tôi cáng đáng. Nó có hiệu lực pháp lý cho tới lúc Bill qua đời. Từ lúc đó, người thi hành di chúc đảm nhiệm mọi hậu sự của ông. Tiếc rằng, người đó, một linh mục, lại không có mặt tại Sydney lúc này. Quả là một tình thế khó xử. Hai người anh của Ông Bill gần như không thực hành đạo nữa, nên họ không chú trọng đến lễ nghi tôn giáo. Họ cho hay mọi cử hành sẽ diễn ra ngay tại nghĩa địa với sự tham dự của chừng 12 người thuộc 2 gia đình họ. Tôi thấy xót xa cho Bill.

Rất may, được thông báo, người đồng hương với tôi, vốn coi Bill như anh em, đề nghị sẽ mời các thân hữu Việt Nam tới tham dự một thánh lễ với sự “hiện diện” của Bill để tỏ lòng tôn kính và cầu nguyện đặc biệt cho Bill. Được lời như cởi tấm lòng, tôi mang chuyện thưa với hai người anh của Bill. Họ hoan hỉ đồng ý, tuy không ai trong 2 gia đình họ tới tham dự. Tấm lòng quí hóa của các đồng hương, những người từng gặp gỡ và nhận sự giúp đỡ tinh thần và vật chất của Bill, quả không bỏ rơi ông trong những giờ phút sau cùng và hậu sau cùng này. Tấm lòng quí hóa đó, mấy ngày sau, còn được thể hiện hơn nữa. Không ai “mời” ai, vì không ai có tư cách chi để mời, nhiều thiện nguyện viên từng làm việc với Bill trước đây nói sẽ tới tham dự tang lễ. Ông Chủ Tịch Ban Thường Vụ thuộc Hội Đồng Mục Vụ của Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam Sydney, khi biết tin, cũng đã tự nguyện gửi một e-mail cho các thành viên kêu gọi tham dự buổi tiễn đưa Bill tại nghĩa trang Woronora, dù lúc sinh thời, Bill không liên hệ với Cộng Đồng này như một tổ chức. Ông tập chú vào việc giúp đỡ người tị nạn Việt Nam. Thậm chí, một nhà chuyên nghiệp Việt Nam thuộc nhóm “Sydney Vietnamese Workers’ Interagency”, có thể chưa bao giờ biết Bill, cũng gửi một e-mail cho các nhóm viên xin họ không những tham dự các lễ nghi tống biệt Bill mà còn vận động người khác tới tham dự, trong tâm tình biết ơn những người Úc nói chung đã tận tình giúp đỡ người Việt tị nạn từ trước đến nay. Nhận thấy nội dung cảm động, xin sao chép lại đây để gửi tới các đồng hương:

“Hi Colleagues, FYI.
Please see to the attachement and I hope this information can reach
people who happen to know this person.
Actually we Vietnamese refugees are in debt to many kind and generous
Australians in various ways.
People come and go and sometimes we lost track of people who did good
things to us.
Some one might want to pay tribute to this person to say good bye”.
SVWI - The Sydney Vietnamese Workers' Interagency group

(Thưa các đồng nghiệp, Để Tường.
Xin xem đính kèm và tôi hy vọng thông tin này có thể tới với những người tình cờ biết
hân vật này.
Người Việt tị nạn chúng ta thực sự mang nợ nhiều người Úc tốt bụng và đại lượng nhiều cách.
Người ta đến rồi đi và đôi khi ta mất tăm hơi những người từng làm điều tốt cho ta.
Một số quí vị có thể muốn tới tỏ lòng tôn kính với nhân vật này để nói lời tạm biệt).


Điều đáng nói: tất cả đều là tự phát của những tấm lòng chân chất Việt Nam, chứng tỏ một văn hóa biết ơn và thiện cảm sâu sắc. Cảm động thay. Bill ở trên thiên đàng chắc cũng ngó xuống mỉm cười.
 
Sinh viên tình nguyện với Mùa Hè Xanh 2011: “Vì con muốn làm men muốn làm muối ướp cho mặn đời”
Kim Nhiên
08:27 15/06/2011
THÁI HÀ - Những tiếng ve râm ran dưới vòm lá, những màu đỏ của phượng, màu tím của bằng lăng đã về trên khắp đất trời, chỉ chừng ấy thôi cũng đủ để làm rộn ràng và buâng khuâng biết bao lòng người. Và đây cũng là thời điểm đầy âu lo, hồi hộp của các sĩ tử khi sắp bước vào trận chiến sau mười hai năm đèn sách miệt mài. Để giảm bớt khó khăn cho các sĩ tử cùng các bậc cha mẹ trong kì thi đại học sắp tới thì không thể thiếu vắng sự có mặt của các tình nguyện viên. Hòa chung với không khí lên đường của các sĩ tử và để chuẩn bị tinh thần cho các tình nguyện viên thì sáng ngày 12/6/2011, Liên Đoàn Sinh viên Công giáo Việt Nam đã tổ chức Thánh lễ ra quân và gặp gỡ các tình nguyện viên tại Đền Thánh Gierado - Nhà thờ Thái Hà.

Xem hình ảnh

Được tổ chức trong ngày đại lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, Thánh lễ ra quân đã diễn ra thành công hơn cả niềm mong đợi. Ngay từ những giờ đầu đón tiếp các tình nguyện viên đã trở lên hết sức sôi động và nhộn nhịp. Ơn Chúa Thánh Thần đang đến trong tâm hồn các bạn sinh viên và nó được biểu lộ ra bằng những ánh mắt, những nụ cười trên các khuôn mặt của tình nguyện viên. Nơi bàn đón tiếp các anh chị trong Ban lễ tân đang bận rộn phát những chiếc áo màu xanh tình nguyện cho các bạn sinh viên đến tham dự thánh lễ. Khoác trên mình chiếc áo tình nguyện dường như ai ai cũng cảm nhận rằng mình đang bắt đầu lãnh nhận một sứ vụ hết sức lớn lao. Màu xanh của lòng nhiệt thành, của sự trẻ chung năng động, của vui tươi và hy vọng. Chỉ màu xanh ấy thôi nhưng khi mang trên mình nó đã làm toát lên con người, tâm hồn và nhựa sống của các bạn trẻ sinh viên. Vâng! trong đền Thánh Gierado hôm nay dường như được Chúa Thánh Thần ban ân sủng một cách đặc biệt, cũng các bạn sinh viên ấy và cũng ngôi nguyện đường ấy nhưng khác với bao ngày khác, hôm nay các bạn đã sống với hết con người, với hết tuổi trẻ, và đó cũng là những gì mà các bạn cần có và có được để phục vụ cho công việc tình nguyện sắp tới.

Trước khi Thánh lễ diễn ra đã có một chương trình gặp gỡ, giao lưu và nhảy vũ điệu của các bạn sinh viên đến từ nhiều Cộng đoàn sinh viên khác nhau. Những bài vũ điệu vang lên đã đốt nóng con tim, đã khơi dậy sức trẻ của các bạn sinh viên trong ngôi nguyện đường này. Trong giờ chia sẻ, anh Giuse Nguyễn Tiến Đạt - Trưởng Liên đoàn đã nói lên ý nghĩa của việc tình nguyện. Các anh đại diện cho sinh viên Phát Diệm, Hưng Hóa, Cộng đoàn Bác ái Martino cũng đã có những chia sẻ về dự định cho chương trình tình nguyện mùa hè xanh. Và đây sẽ là những kinh nghiệm, những hành trang quý báu cho các bạn tình nguyện viên của chúng ta khi mới bước đầu lãnh nhận sứ vụ hoàn toàn mới mẻ này.

Sau những giờ phút giao lưu đầy vui vẻ, đúng mười giờ sáng, Thánh lễ ra quân cầu nguyện cho chương trình tình nguyện đã diễn trong bầu khí trang nghiêm sốt sáng, do Cha Gioan Lưu Ngọc Quỳnh chủ sự. Thấm nhuần ơn Chúa Thánh Thần, Cha đã nhắc nhở và nhắn nhủ chúng tôi như người Cha dặn dò con trước khi lên đường. Cha đã nhấn mạnh vào quyền năng của Chúa Thánh Thần, hôm nay Chúa đến để thánh hóa tâm hồn các bạn trẻ sinh viên, liên kết các bạn lại với nhau để đi làm muối men ướp cho mặn đời, cho tình yêu của Chúa giữa cuộc đời. Với lòng hăng say, nhiệt tình, và căng tràn nhựa sống trong tim các bạn đã sẵn sang lên đường cùng Chúa làm men muối cho đời. Vì ngài đã thác vào con đôi cánh để bay khắp bốn phương trời, giờ đây với đôi cánh ấy các bạn sinh viên năng động, nhiệt thành sẽ thay cho đôi tay của Chúa đến với những con người của Chúa dù đầy khó khăn và gian nguy trong quá trình thực hiện công việc tình nguyện của mình.

Trong quá trình hình thành trước sự phát triển không ngừng và sự ủng hộ của các bậc ân nhân, năm nay, Liên Đoàn không chỉ tổ chức các chương trình Tiếp sức mùa thi mà còn tổ chức các chương trình tình nguyện Mùa hè xanh để đến với các vùng nông thôn và đồng bào dân tộc khó khăn đang cần những bạn trẻ. Vì vậy cuối thánh lễ có diễn ra nghi thức sai đi, điều đó lại càng thôi thúc các bạn lên đường đến với những người nghèo khó, đến với các em học sinh đang cần các anh chị sinh viên nâng đỡ. Những ngọn nến được thắp sáng trên tay mỗi người như một minh chứng của ngọn lửa trong tim đã được ơn Chúa Thánh Thần làm bừng tỉnh lên sau những tháng ngày âm ỉ. Thánh lễ diễn ra gần hai giờ đồng hồ và kết thúc vào 11h30. Trong thời gian vô cùng ngắn ngủi ấy nhưng Cha đã giúp các bạn sinh viên chuẩn bị một hành trang lớn lao về kinh nghiệm và tinh thần để các bạn hoàn thành sứ vụ sắp tới của mình.

Ra đi trong niềm hân hoan của ơn Chúa Thánh Thần mỗi bạn sinh viên sẽ là men, là muối, là ánh sáng cho đời bằng những việc làm tình nguyện thiết thực của mình. Nguyện xin Chúa Thánh Thần ban mọi hồng ân trên mỗi người chúng con để chúng con được nhìn thấy Ngài qua những việc làm bác ái, xin hãy đồng hành chở che chúng con để chúng con gặt hái thành công trong sứ vụ chúng con làm. Và những việc làm ấy sẽ là do “TÌNH YÊU ĐỨC KITÔ THÚC BÁCH”.
 
Thánh Địa La Vang: Ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống
Paul Maria
08:33 15/06/2011
LA VANG - Ngày 12/6/2011, Chúa Nhật kính trọng thể lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, có lẽ không chỉ ở Giáo xứ Thanh Đức Đà Nẵng chúng tôi, mà chắc là nhiều nơi, Lễ chúa Thánh Thần Hiện Xuống là ngày kiêng việc xác, nên rất nhiều gia đình thường tổ chức đi nghỉ lễ khắp nơi. Gần thì các bãi biển đẹp và mát quanh thành phố, xa thì về quê, hay ra Huế, thăm động Phong Nha Quảng Bình...

Xem hình ảnh

Năm nay, Giáo xứ Thanh Đức lại chọn ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống để hành hương về bên Mẹ La Vang.

Thời tiết những ngày này thật khắc nghiệt. Nắng nóng, hanh trời, cộng thêm những làn " gió Lào " mang theo từng đợt gió nóng " khủng " đến khô cả người. Ban chiều lại thường hứng chịu những trận mưa giông không lớn, hơi đất xông lên, làm không khí càng oi bức khó chịu.

Những tưởng như thế, Giáo xứ chúng tôi sẽ có được một không gian yên tĩnh ở bên Mẹ " cách riêng tư " để thực hiện những nghi thức Phụng vụ như Ngắm Đàng Thánh Giá lúc 14h30 chiều, rước Kiệu Đức Mẹ La Vang lúc 19h00, cử hành Thánh lễ đồng tế kính Chúa Thánh Thần Hiện Xuống ( do Cha Quản xứ Thanh Đức FX. Nguyễn Văn Thịnh, Cha Quản xứ Hòa Khánh, Trưởng Ban Thánh Nhạc GP Đà Nẵng FA Lưu Văn Hoàng và Cha Phêrô Lưu Văn Tâm, Cha giáo ĐCV Xuân Bích Huế cử hành ) lúc 19h30 và Tâm tình với Mẹ lúc 20h30. Rồi sáng mai, 13/6/2011, sẽ có Thánh lễ đồng tế tại Linh Đài lúc 07h00, và chầu Thánh Thể trong Nhà thờ lúc 09h30.

Đoàn chúng tối đến La Vang lúc 11h30, Soeur Phụ trách nhà Hành hương cho biết là có khoảng chừng 400 khách hành hương nữa sẽ đến vào chiều nay từ khắp nơi trên cả nước : Đoàn Giáo dân từ Gp Lạng Sơn - Cao Bằng, Nhóm Gia Trưởng từ GP Long Xuyên, Đoàn Hành hương của các gia đình từ Quảng Bình GP Vinh và đoàn từ TGP Sài Gòn...

Và đúng như thế, lúc hơn 18h00, bãi đỗ xe đã có 14 chiếc loại 45 chỗ ngồi, trên sân nhà Hành hương có 9 chiếc 7, 14 CN và sân nhà các Chị Dòng Mến Thánh Giá có đến hơn 7 chiếc nữa. Như vậy, kể cả Đoàn Thanh Đức, giờ này đã có không dưới 800 người con của Mẹ đang ở La Vang. Thật không có gì có thể ngăn cản được những người con hiếu thảo trở vể bên Mẹ của mình. Một " Đại hội La Vang mini " chính trong Ngày Chúa Thánh Linh Ngự Xuống ?!?

Gặp anh Phêrô Phạm Ngọc Huệ, phụ trách Tiếp tân của Đoàn Thanh Đức, anh cho biết các anh chị đã phải mua thêm 400 cây nến nữa để phát cho mọi người cùng tham dự cuộc rước kiệu Đức Mẹ tối nay.

Dù quê Nam quê Bắc, dù giọng Huế giọng Vinh, những tiếng ca tán tụng tri ân, những cung lòng tung hô cảm tạ ... của đoàn con cái hòa nhịp hài hòa phát ra bởi chỉ bởi một tâm tình, một trái tim và một tình mến không thể nào lẫn được dâng lên Thiên Chúa và Mẹ Thánh của Người.

Buổi Ngắm Đàng Thánh Giá thành tâm sốt sắng , cuộc rước Kiệu Mẹ rộn rã hân hoan, giờ chầu Thánh Thể trang nghiêm cảm động, và nhất là các Thánh lễ trang trọng ấm áp ..., tất cả làm nên một " Bữa Tiệc Ân Sủng " từ Thánh Linh Thiên Chúa tràn trề qua tay Mẹ Maria, Thánh Mẫu La Vang.

" Lạy Mẹ Việt Nam,
Thấu chăng Mẹ ơi ?
Các con Việt Nam sống trong lầm than,
Còn chưa biết Chúa, những sống khóc than,
Ôi phút nguy nan dưới ách sa tan.
Mẹ Việt Nam,
Xin thương các con Việt Nam.
Mẹ cầu Chúa cứu giúp các con Việt Nam :
Được ơn phúc biết Cha là Chúa muôn loài,
Phụng sự Chúa không bao giờ lo nguy nan ... "
 
Đại Hội Mục Vụ lần thứ 56 tại giáo xứ Việt Nam Paris
Trần Văn Cảnh
08:35 15/06/2011
Đại Hội Mục Vụ lần thứ 56

GXVN Paris

Paris, ngày 12-06-2011, Đại Hội Mục Vụ lần thứ 56 của Hội Đồng Mục Vụ tại GXVN Paris. Được thành lập vào ngày 30/10/1983, HĐMV của GXVN Paris cập nhật hôm nay gồm 78 thành viên, với 10 vị trong Ban Giám Đốc, 7 vị trong Ban Cố Vấn, 29 đại biểu của 7 Địa điểm Mục Vụ và 49 Đại diện của 19 phong trào, hội đoàn, ca đoàn, ban, nhóm. Đại Hội Mục Vụ thứ 56 hôm nay độc đáo, vì là đại hội lần thứ 12 mà nội dung xoay quanh chương trình 3 năm sắp tới và đã qua : Dự án 3 năm tới ; Báo Cáo thực hiện 3 năm qua ; Và bầu Ban Thường Vụ mới cho Nhiệm Kỳ XII, 2011-2014.

1. Dự án 3 năm tới 2011-2014

Chào mừng Đại Hội và các thành phần HĐMV về dự Đại Hội, Đức Ông Giám Đốc Mai Đức Vinh vui mừng vì lần đầu tiên đại hội trùng vào ngày lễ Chúa Thánh Thần. Mong rằng Đại Hội được diễn tiến dưới ánh sáng hồng ân Chúa Thánh Thần, ngài nêu ra những điểm chính cho dự án ba năm tương lai và cám ơn Ban Thường Vụ nhiệm kỳ 3 năm vừa qua. Ngài nói :

« Trước tiên tôi hân hoan chào mừng quý vị trong ban Giám Đốc, ban Cố Vấn, ban Thường Vụ và quý Đại Diện, đặc biệt quý vị Đại Diện tân cử đến tham dự Đại Hội chiều nay. Tôi hân hoan vì chưa bao giờ Đại Hội Mục Vụ trùng vào ngày Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống như năm nay. Vì thế, hơn mọi lần, giờ đây tôi hân hoan cảm thấy Đại Hội MụcVụ được diễn tiến dưới ánh sáng hồng ân Chúa Thánh Thần. Xin Ngài đến và hướng dẫn công việc của chúng ta hôm nay, cách riêng công việc bỏ phiếu bầu lại Ban Thường Vụ mới cho nhiệm kỳ 2011-2014, thay thế Ban Thường Vụ nhiệm kỳ 2008-2011.

Vì dành thời giờ cho việc bầu Ban Thường Vụ mới, nên tôi chỉ xin trình bày vắn gọn mấy điểm như sau :

1. Giáo Xứ tiếp tục ‘Hướng đi mục vụ năm 2010-2011 về ‘Việc Thánh Hóa Gia Đình Và Giới Trẻ’.

2. Giáo Xứ có một niềm vui lớn đón mừng ‘25 năm thành lập Phong Trào Thiếu Nhi Thánh Thể hay của Đoàn Kitô Vua’. Sau ngày lễ mừng ngân khánh theo chương trình riêng của đoàn, tôi và Ban Giám Đốc đã xin cha Sách và cha Điển chọn một chủ nhật trong tháng chín, tháng mười hay tháng mười một để cả Giáo Xứ cùng chia vui với Phong trào Thiếu Nhi Thánh Thể hay với Doàn Kitô Vua. Hôm đó có thể mời một Giám Mục tới chủ lễ. Sau Thánh Lễ Giáo Xứ tặng quà và tiếp tân mừng các em… vì tất cả các em là con cái, là tương lai của Giáo Xứ, sinh hoạt Thiếu Nhi là một sinh hoạt rất quan trọng về nhiều phạm vi mục vụ của Giáo Xứ. Vì thế, Giáo Xứ có bổn phận bày tỏ niềm vui lớn lao này… Tôi cũng nghĩ đến việc chọn ngày lễ này làm ngày kết thúc ‘Năm Mục Vụ Gia Đình và Giới Trẻ’.

3. Về tài chánh của Giáo Xứ : Chương mục của Giáo Xứ để trên Tòa Tổng Giám Mục hiện nay là 1.555.185 €. Năm 2010 tiền lời là 47.617 €. Nhờ số tiền lời này mà quỹ điều hành của Giáo Xứ năm 2010 giữ được thế quân bình. Năm 2010 tổng số thu là 323.533 € và tổng số chi là 321.446 €.

4. Hai việc lớn Giáo Xứ phải thực hiện trong những tháng tới : 1) Theo văn thư mới nhất của Cảnh Sát về ‘vệ sinh môi trường’ thì cuối tháng sáu đầu tháng bảy tới Giáo Xứ phải hoàn thành ống khói (cheminée). Vì những phức tạp về thủ tục hành chánh và về những đòi hỏi của Syndic và hãng thầu, chúng tôi chưa biết được đích xác về phí tổn. 2) Việc làm thang máy và nhà vệ sinh cho người khuyết tật, chắc chắn sẽ phải làm, nhưng mọi thủ tục thực hiện nằm trong chương trình chung của tổng giáo phận Paris nên chúng tôi chưa nắm được thời gian thực hiện và phí tổn phải trả.

5. Điều sau cùng tôi muốn nói lên hôm nay, là lời cám ơn chân thành của tôi cũng như của Ban Giám Đốc và của cả Cộng Đoàn, bày tỏ với Ban Thường Vụ mãn nhiệm, với quý vị cựu Đại Diện của các Địa Điểm Mục Vụ hay các Hội Đoàn, Ban Nhóm lời cám ơn nồng hậu về bao nhiêu hy sinh quý vị đã dành cho từng Đơn Vị Mục Vụ cũng là cho cả Cộng Đoàn Giáo Xứ. Xin Chúa trả ơn lại cho quý vị và gia đình của quý vị. Quả thật ‘Chúa là Người mời gọi và cắt cử quý vị làm việc trong Cộng Đoàn Giáo Xứ tức là trong đồng lúa và trong vườn nho Giáo Hội, thì chỉ có Ngài mới đền ơn xứng đáng cho từng vị. Cùng với quý vị, Cộng Đoàn Giáo Xứ xin dâng lời cảm tạ Chúa và tuyên chứng ‘Mọi sự cho Vinh Danh Chúa được cả sáng’ (omnia ad Dei majorem gloriam).

Cám ơn Ban Thường Vụ nhiệm kỳ 2008-2011, tôi đã cầu nguyện và giờ đây tôi xin Đại Hội cầu nguyện nhiều cho cuộc bầu phiếu hôm nay được mọi sự tốt đẹp dưới ánh sáng hồng ân của Chúa Thánh Thần. Nếu có những vị trong Ban Thường Vụ mãn nhiệm không thể tiếp tục vì gia cảnh hay vì tình trạng sức khoẻ, thì cũng có những vị khác vui lòng ở lại, tiếp tục phục vụ Giáo Xứ và những vị mới mà Đại Hội sẽ đề nghị và bỏ phiếu. Tôi tha thiết xin quý vị coi lá phiếu của Đại Hội là lời mời gọi của Chúa và lời thỉnh cầu của cả Cộng Đoàn Dân Chúa, vì như người ta thường nói trong Giáo Hội ‘Tiếng nói của dân Chúa là tiếng nói của chính Chúa’ (Vox Dei populi, vox Dei ipsius). Tôi xin cám ơn quý vị trước. Trước khi nhường lời cho chị Đáo Kim Phượng, phó chủ tịch Hội Đồng Mục Vụ bá cáo đại cương về sinh hoạt của Ban Thường Vụ trong nhiệm kỳ vừa qua, môt lần nữa, tôi xin Chúa Thánh Thần hướng dẫn và chúc lành cho mọi công việc của Đại Hội ».


2. Báo cáo thực hiện 3 năm 2008-2011

Tiếp theo chương trình, chị Phó chủ Tịch Đào Kim Phượng, đã thay mặt Ban Thường Vụ nhiệm kỳ 2008-2011, cám ơn sự tín nhiệm của Cộng Đoàn, xác định tinh thần làm việc như « một bổn phận thiêng liêng phải chu toàn trong một thời điểm » và nêu ra những sinh hoạt đã thực hiện được, những sinh hoạt quen thuộc hằng năm cũng như những sinh hoạt đặc biệt và bất thường trong ba năm qua. Chị nói :

"Con xin được đại diện Ban Thường Vụ nhiệm kỳ 2008-2011 để báo cáo vắn gọn về sinh hoạt của BTV/HĐMV trong ba năm qua. Sở dĩ báo cáo vắn gọn là vì mỗi sáu tháng đã có các báo cáo với Đại Hội và hôm nay BTV chúng con mãn nhiệm kỳ nên cần để dành nhiều thời gian cho việc bầu cử một tân BTV cho nhiệm kỳ 2011-2014.

Trước hết tất cả chúng con, Ban Thường Vụ (BTV) mãn nhiệm kỳ, xin một lần nữa cám ơn sự tín nhiệm của tất cả quí ông bà, anh chị hiện diện cũng như vắng mặt hôm nay, nhưng đã tín nhiệm chúng con trong kỳ bầu cử ba năm trước. Chúng con đã cố gắng phụng sự Thiên Chúa qua việc phục vụ cộng đoàn trong phạm vi trách nhiệm của mỗi người chúng con và nhất là trong phạm vi khả năng giới hạn của chúng con.

Công việc không thiếu, nhân lực thì ít, nhưng với Ơn Chúa và nhiệt tình của anh chị em thì mọi việc cũng xong. Chúng con xin Tạ Ơn Chúa và gởi đến tất cả lời cám ơn chân thành nhất về tất cả mọi nỗ lực của tất cả và của từng người trong ba năm qua đã hợp tác chặt chẽ với BTV trong chương trình mục vụ, ngắn hạn và dài hạn, do Ban Giám Đốc đề xướng và hướng dẫn. BTV chỉ là một cơ quan tư vấn cho Ban Giám Đốc nhưng luôn sẵn sàng đóng góp phần mình bao nhiêu có thể để cùng chung xây dựng cộng đoàn thân yêu của chúng ta.

Riêng con khi được bầu vào BTV của mỗi nhiệm kỳ đã qua, con vẫn luôn quan niệm chức vụ lãnh nhận không phải là một “vinh dự” (như một thành đạt cá nhân) nhưng là một “bổn phận” thiêng liêng (là con cái cộng đoàn) phải chu toàn trong một thời điểm nào đó khi được Chúa gọi mời làm lợi “nén bạc” đã nhận. Con thiết nghĩ các anh chị em trong BTV cũng chia sẻ với con tâm tình đó.

Thưa quí Đại Hội,

sau đây là những sinh hoạt quen thuộc và định kỳ của BTV với cộng đoàn :

- Tĩnh tâm tháng 9 của BTV và các Đại Diện Mục Vụ,

- Lễ các Thánh Tử Đạo VN và Lễ Lá với các cộng đoàn VN vùng Paris.

- Tiệc Xuân chung của cộng đoàn,

- Hai Ngày thân hữu (Kermesse),

- Thánh Lễ Giao thừa với lì xì cho Giới Trẻ và Thiếu Nhi,

- Thánh Lễ Giáng Sinh và Phục Sinh với những buổi canh thức,

- Thi Hang Đá (mỗi ba năm),

- « Ngày Ca Đoàn » và « Diễn nguyện Thánh Ca » (chị Anh-Thư, Ủy Viên Phụng Vụ phụ trách)

- Tháng 5 : một số thành viên BTV tham dự cuối tuần « Gặp gỡ Giới Trưởng Thành » tại Orsay.

Những sinh hoạt khác :

- Tháng 6/2008 : tiếp Đức Tổng GM Ngô Quang Kiệt dâng Thánh Lễ « gửi » nhóm Trẻ gx đi tham dự JMJ (Ngày Thế Giới Giới-Trẻ) tại Úc.

- Tháng 6/2008 : tiếp Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đến nói chuyện, trao đổi với một số các vị đại diện cộng đoàn gx về việc tổ chức «Đại Hội Năm Thánh 2010 ».

- CN 2-11-08 : chính thức khai mạc sinh hoạt của Hội TOBIA.

- Sống « Năm Thánh Phaolô » 28-06-08 đến 29-06-09 với Giáo Hội hoàn vũ.

- Sống « Năm Linh mục » 2009-2010, với Tổng Giáo Phận Paris dưới chủ đề : « Tất cả cho Ơn Gọi »

- Sống « Năm Gia Đình » 2010-2011 với Tổng Giáo Phận Paris.

- Tiệc Xuân : làm được một số bàn mới để việc xếp đặt chỗ ngồi được khang trang hơn và thu hoạch về bán vé được nhiều hơn (anh Thơm, Ủy Viên Xây Dựng phụ trách)

- Thực hiện việc cấm đậu xe trước cổng gx.

- Tổ chức lại quầy bánh nước của gx (do anh Hảo, Ủy Viên Tài Chánh phụ trách).

Lực bất tòng tâm, còn nhiều ý kiến, nhiều thao thức mà chúng con cũng như nhiều ông bà, anh chị em khác trong cộng đoàn ước ao thực hiện nhưng phương tiện tài chánh, nhân lực, thời gian, chưa cho phép thực hiện. Chúng con mong rằng trong tuơng lai tân BTV sẽ tiếp tục và còn làm được những việc tốt đẹp hơn nữa.

Cuối cùng, con xin thay mặt tất cả các anh chị em trong BTV kính chào tất cả quí Đại Hội và tuyên bố BTV nhiệm kỳ 2008-2011, hết nhiệm kỳ từ giây phút này.

Kính chúc Đại Hội thành công”.


3. Bầu Ban Thường Vụ mới cho nhiệm kỳ 2011-2014

Mở đầu phần 3 và là trọng tâm của Đại Hội hôm nay, chị Tổng Thư Ký Trần Kim Chi và anh Phó Tổng Thư Ký Nguyễn Xuân Chương đã thay nhau đọc lại những điều khoản chính của Bản Nội Qui hiện hành, đặc biệt những điều khoản liên hệ tới các « Thành phần và Nhiệm vụ Ban Thường Vụ », đến « Thể thức bầu phiếu và Nhiệm kỳ của HĐMV », và đặc biệt điều 2 và điều 11 xác định bản chất của HĐMV và thẩm quyền tối hậu của Cha Giám Đốc về mọi vấn đề của Cộng Đoàn.

« Điều 2 : Mục đích và cơ cấu Hội Đồng Mục Vụ : Hội Đồng mục Vụ là cơ quan tư vấn hình thành các quyết định mục vụ. Ngoài ra, Hội Đồng Mục Vụ còn có trách nhiệm cộng tác với Ban Giám Đốc và trong các phạm vi: tôn giáo, văn hóa, xã hội và tài chính.

Điều 11. Theo Tự sắc Ecclesiae Sanctae (Hội Thánh) số 16 năm 1966 của đức Phaolo VI và theo Giáo Luật 1983 về Hội Đồng Mục Vụ cấp Giáo Xứ (canon 536), Cha Giám Đốc Giáo Xứ có thẩm quyền tối hậu về mọi vấn đề của Cộng Đoàn ».

Rồi cuộc bầu cử đã được diễn ra. Kết quả Tân Ban Thường Vụ nhiệm kỳ thứ XII, cho 3 năm 2011-2014 gồm những vị sau đây :

Chức vụ Họ và Tên

Chủ tịch: Ông Nguyễn Ngọc Đỉnh

Phó Chủ Tịch: Bà Micheline Trần Kim Chi

Tổng Thư Ký: Ông Cao Trọng Nghĩa

Phó Thư Ký: Ông Gioakim Nguyễn Xuân Chương

Ủy Viên Văn Hóa: Ông Giang Minh Đức

Ủy Viên Phụng Vụ và Thánh Ca: Ông Thomas Võ Tri Văn

Ủy Viên Thiếu niên: Anh Nguyễn Nhaty

Ủy Viên Thanh Niên: Anh Trương Nguyên Vũ

Ủy Viên Xây Dựng: Ông Nguyễn Văn Thơm

Ủy Viên Tài Chánh: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng


Đúng như lòng hân hoan mong chờ của Đức Ông Giám Đốc, Đại Hội lần 56 của HĐMV đã diễn ra dưới « Ánh Sáng Hồng Ân Chúa Thánh Thần » : « Tôi hân hoan vì chưa bao giờ Đại Hội Mục Vụ trùng vào ngày Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống như năm nay. Vì thế, hơn mọi lần, giờ đây tôi hân hoan cảm thấy Đại Hội MụcVụ được diễn tiến dưới ánh sáng hồng ân Chúa Thánh Thần. Xin Ngài đến và hướng dẫn công việc của chúng ta hôm nay, cách riêng công việc bỏ phiếu bầu lại Ban Thường Vụ mới cho nhiệm kỳ 2011-2014, thay thế Ban Thường Vụ nhiệm kỳ 2008-2011 ».

Đức Ông Giám Đốc chúc mừng các vị tân cử trong Ban Thường Vụ nhiệm kỳ thứ XII trong ba năm 2011-2014. Ngài mời các vị cùng lên bàn chủ tọa trình diện với Đại Hội. Rồi cám ơn các thành phần HĐMV đã về tham dự Đại Hội. Thầy sáu vĩnh viễn Phạm Bá Nha mời mọi người chụp tấm hình kỷ niệm chung.

Từ đáy lòng mình, mọi người như cùng muốn cất lên bài ca cám tạ ơn Chúa. Ra về, người thì thì thầm điệu nhạc « Cầu xin Chúa Thánh Thần », người thì lẩm bẩm bài ca « Hồng Ân Thiên Chúa bao la, muôn đời con sẽ ngợi ca ơn người ».

Paris, ngày 15 tháng 06 năm 2011

Trần Văn Cảnh
 
Phóng sự: Hội chợ Xóm làng Việt Nam tại trụ sở Cộng đoàn Đức Mẹ La Vang Strasbourg.
VL
09:26 15/06/2011
Phóng sự : Hội chợ Xóm làng Việt Nam tại trụ sở Cộng đoàn Đức Mẹ La Vang Strasbourg.

Ngày Chúa nhựt 12 tháng 6 năm 2011, từ 11 giờ đến 22 giờ tại trụ sở Cộng đoàn Đức Mẹ La Vang Strasbourg.

Bảo tồn truyền thống văn hóa Việt Nam

Người Việt Nam tha hương,dù sống trên phần đất tạm dung nào cũng không quên cội nguồn của mình.Chúng ta có bổn phận bảo tồn nền văn hóa do tổ tiên để lại.Vì lý do đó,Cộng đoàn Đức Mẹ La Vang Strasbourg đã tổ chức hai năm liên tiếp hội chợ Xóm làng Việt Nam để gợi nhớ quê hương trong lòng những người lớn tuổi và giới thiệu cho giới trẻ biết về đất nước mình.Ban tổ chức đã cố gắng tạo những khung cảnh hữu tình để đưa đồng hương về thăm viếng 3 miền Bắc ,Trung, Nam và thưởng thức các món ăn đặc sản của từng miền.

Lễ khai mạc trang trọng

Sau Thánh lễ mừng Chúa Thánh Thần hiện xuống ,các thành viên của cộng đoàn, với gương mặt hân hoan,nô nức rời nhà dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm,lũ lượt kéo sang trụ sở chờ tham dự lễ cắt băng khai mạc. Đặc biệt năm nay,có ông thị trưởng thành phố Hoenheim đến chung vui với cộng đoàn.

Đúng 11 giờ 10,Cha Tuyên úy và Bác chủ tịch sánh bước cùng ông Thị trưởng đến cổng trụ sở giữa tiếng vỗ tay liên tục của mọi ngưởi. Ánh nắng êm dịu buổi sáng đẹp trời chiếu lên những khuôn mặt rạng rỡ niềm vui.Cô trưởng ban thanh niên ,bằng một giọng lưu loát, đã giới thiệu bằng tiếng Pháp diển tiến của hội chợ Xóm làng Việt Nam.Anh xướng ngôn cũng cất tiếng chào mừng quý vị quan khách.

Xem hình hội chợ

Ba cô gái xinh đẹp trong những chiếc áo dài đỏ lộng lẫy, đầu đội khăn hoàng hậu,tiến đến choàng vòng hoa vào cỗ ông Thị trưởng thành phố ,Cha Tuyên úy và bác Chủ tịch .Những chiếc kéo được trao tay để 3 vị cùng cắt băng khai mạc hội chợ giữa tiếng reo vui của các thành viên cộng đoàn.Mọi người lần lượt nối bước theo sau ,tiến vào trụ sở.Tiếng loa của anh xướng ngôn với giọng xứ Quãng, vui vẻ giới thiệu từng gian hàng với các thức ăn , đặc sản của 3 miền đất nước.Anh cũng không quên cho biết những trò chơi trong ngày.

Khóm trúc,bờ tre,bụi chuối ,mái tranh,chiếc cổng xinh đẹp của hội chợ , các cô Bắc kỳ nho nhỏ,các nữ sinh tóc thề xứ Huế và các thôn nữ duyên dáng của đồng bằng sông Cửu long là những đối tượng của đồng hương và khách Pháp đến xin chụp ảnh lưu niệm.

Cha Tuyên úy và bác Chủ tịch đã đưa ông Thị trưởng dạo quanh trụ sở, giới thiệu từng gian hàng,từng y phục của 3 miền Nam Trung Bắc,các món ăn của 3 vùng.Nụ cười luôn nở trên môi, ông ngợi khen nét đẹp với nhân dáng dịu dàng,kín đáo của người con gái Việt Nam. Được Cha Tuyên úy mời ,ông thưởng thức vài món ăn 3 miền. Miệng tấm tắc khen ngon , ông mua thêm mang về cho người yêu của ông dùng.

Trong khi Cha Tuyên úy tiếp khách thì bác Chủ tịch đến thăm hỏi từng người phụ trách gian hàng.Bác cũng thường xuyên liên lạc với anh Trưởng ban tổ chức và các anh em trách nhiệm những ngành chuyên môn để nắm vững tình hình . Đồng hương và khách Pháp đến đông thêm nhưng ban tiếp tân không nao núng, vẫn giữ nụ cười trên môi, mời khách lựa chọn những món ăn,thức uống tùy ý thích.

Văn hóa ẩm thực ba miền đất nước

Nếu nói đến cái phong phú của các món ăn thì phải kể miến Tây Nam Việt là đa dạng .Xuôi về miền Tây,không ai quên được tô hủ tiếu Mỹ tho ,ly nước dừa ngọt lịm Bến tre.Làm sao quên được bánh tầm bì nước dừa hay cá lóc nướng trui ,lươn um,rùa rang muối của Cần thơ,tô bún mắm của Cà mau,hũ mắm thái của Châu đốc,nem chua miệt Lai Vung Sađéc.

Ngoài các món ăn,miền Tây còn câu hò , điệu lý,câu ca vọng cổ trữ tình lãng mạn ,lơ lửng với khói sương,nhấp nhô cùng sóng nước.

Ra thăm miền Trung, đến phố cỗ Hội An, dọc con sông Thu Bồn,hội chợ Xóm làng Việt Nam mời khách dùng món cao lầu hay mì Quảng .

Qua đèo Hải Vân đến xứ Huế,khép kín,trầm mặc, khách được thưởng thức bánh bèo trong những cái dĩa xinh xắn,bé tí,chan chút nước mắm đậm đà hương vị,hoặc dùng bánh khoái bột lọc gói lá nóng hổi,bốc từng chiếc dai dai,sần sật,hay mời khách ăn tô bún bò Huế hoặc tô cơm hến cay xé lưỡi.Các Soeurs Dòng Mến Thánh giá Huế Strasbourg cũng tham gia một gian hàng bán các thức ăn Huế rất bắt mắt và ngon miệng.Đồng hương có thể nghe lời ca,giọng hò xứ Huế trong đêm karaokê của hội chợ.

Giã từ sông Hương,núi Ngự, Hội chợ Xóm làng Việt Nam mời đồng hương ra đất Bắc thăm 36 phố phường của Hà nội và ăn tô phở nóng với nước dùng trong vắt hay thưởng thức món chả cá Lã Vọng hoặc tô bún ốc Hồ Tây.Quý vị được nghe câu hát quan họ hay điệu hò cò lã của miền quê Bắc Việt.

Các món ăn,thức uống chóa mắt

Đồng hương và khách Pháp tha hồ lựa chọn các món ăn nhưng trong lòng nơm nớp lo bụng không còn chỗ chứa.Những người thích lai rai thì có chả giò, hột vịt lộn,gỏi cuốn ,bò bía hay tiết canh.Người muốn chặt bụng thì có bánh bao,phở, ,bún bò Huế,mì Quãng,cơm tấm bì, cháo lòng,bánh bèo,bánh ít trần,bánh cuốn chả lụa hoặc xôi với đùi gà chiên .Muốn nhâm nhi thưởng thức các món ăn lạ thì xin mời đến quán của các Soeurs để ăn bánh Huế bột lọc,nhân thịt

Tiếng nói, tiếng cười,từng đợt vang lên để chia sẻ niềm vui giữa người Việt với người Việt.Các ông Tây,bà Đầm được các bạn Việt Nam giới thiệu các món ăn khiến họ vui vẻ hoà đồng với cộng đoàn nhanh chóng.Các thiếu nữ Pháp ăn uống hồn nhiên bên cạnh những cô bạn Việt,vừa ăn,vừa gật đầu hả hê khen ngon.Gần đó có cô gái quê mặc áo vá vai với gánh rau lang xanh mướt đi bán dạo .

Đến khi ăn tráng miệng thì ê hề ,nào là bánh ếch,bánh da lợn,bánh cam,bánh bò,dưa hấu,nào là các thứ chè,sâm bổ lượng,các loại kem. Gánh tàu hủ được nhiều người chiếu cố vây quanh. Hãy nhìn xem khách xếp hàng chờ những ly sinh tố sầu riêng và các loại trái cây khác.Hàng bán cà phê cũng đông khách vì có cô Bắc kỳ lại bán cà phê sữa đá của Nam kỳ, chất lượng đâu kém Sàigòn.Cô còn bán thêm cơm rượu ,xôi vò.

Khoảng 2 giờ trưa,một số khách no bụng,hả hê ra về,tay cầm các món chưa kịp ăn,mua mang về nhà dùng tiếp.Có nhiều bà khệ nệ mua vài đòn bánh tét,bánh ếch,bánh bèo,bánh bao đem về dự trử trong tủ lạnh .Các thanh niên,thiếu nữ ở lại trụ sở để ăn bữa cơm chiều và tham dự karaokê.Những ông sồn sồn thì hẹn chiều quay lại lai rai tiếp.

Trò chơi tao nhã

Ban văn hóa tung ra các trò chơi độc đáo như ê a kêu lô tô theo vần điệu dân quê miền Nam.Sau đó đến màn đố thơ và nhạc của các thi nhân và nhạc sĩ vang tiếng một thời như Hàn Mạc Tử,Phạm Duy v..v .

Lại có thêm hai hành khất đưa nhau đi khắp nơi ,dùng tiếng đàn giọng hát để xin tiền bố thí.Số tiền nhận được, họ đều trao hết cho ban tiếp tân để ủng hộ cộng đoàn.Một cuộc lạc quyên độc đáo và đầy nghĩa cử.Các trẻ em thích thú chơi trò chuột tìm hang và bầu cua cá cọp.

Giữa trưa hè oi ả nóng,tội nghiệp các bà bán hàng nhễ nhãi mồ hôi nhưng miệng vẫn nở nụ cười.Các nam thanh,nữ tú ngồi nhâm nhi ly cà phê hay ly sinh tố hoặc chén chè,trầm ngâm tìm lời giải đáp các câu thơ được vang lên qua máy phóng thanh.

Chiều chưa tắt nắng,ban âm thanh, ánh sáng đã chuẩn bị dụng cụ cho buổi karaokê.Ban tổ chức cũng hơi lo không biết khách ban trưa có quay lại không ? Và khách mới có đến chung vui những giờ cuối ?

Karaokê và bữa ăn chiều

Lúc 18 giờ 15, tiếng nhạc,lời ca của đêm karaokê bắt đầu.Khách buổi chiều hớn hở,lũ lượt vào trụ sở cộng đoàn để vừa thưởng thức các món ăn ba miền,vừa góp mặt trên sân khấu với lời ca,tiếng hát.Cuộc vui kéo dài làm cho con người quên đi thời gian.Các thức ăn được bán hết từ cơm tấm bì chả,cháo lòng đến hột vịt lộn,người ăn tại chỗ,kẻ mua mang về, khiến các bà chủ gian hàng nhẹ nhõm trong lòng.Các ly chè ,các ly sinh tố cũng được bán hết sau đó. Đến 22 giờ là chấm dứt hội chợ.Ngoài những đồng hương còn lưu luyến không khí ấm cúng và trang nhã của hội chợ ,khách Pháp cũng không muốn ra về.Họ theo hỏi các Sœurs sao Hội chợ chấm dứt sớm thế ? Đó là quy định của ban tổ chức, đành chờ năm sau vậy.Có đồng hương hỏi sao không tổ chức hội chợ 2 lần trong năm ?Xin thưa rằng cuộc vui tuy ngắn ngủi nhưng thời gian chuẩn bị rất lâu dài .Các thành viên của Cộng đoàn Đức Mẹ La Vang đã góp nhiều công sức dựng lên Hội chợ Xóm làng Việt Nam để cống hiến cho đồng hương và khách người Pháp một ngày vui thú vị .

Những lời kết luận

Truyền thống văn hóa Việt Nam với hơn 4 ngàn năm luân lưu và thừa kế đã hun đúc nên tâm hồn người Việt yêu quê hương. Ở những vùng quê yên tĩnh có hàng tre kẽo kẹt,tiếng võng đong đưa,bà ầu ơ ru cháu .Tiếng ru chảy thành khúc dân ca muôn thuở,như giòng sông chở nặng phù sa,vun đắp tình yêu quê hương qua tháng rộng năm dài.Là người Việt Nam,chúng tôi chỉ yêu nước Việt Nam. Không ai có quyền bắt buộc chúng tôi phải yêu nước qua những chủ nghĩa ngoại lai,vong bản.

Strasbourg,ngày 14 tháng 6 năm 2011

VL
 
Lễ Tạ Ơn Kim Khánh giáo xứ Tư Tề - Phan Thiết
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
09:45 15/06/2011
PHAN THIẾT - Ngày 15.6.2010, ĐGM Phan Thiết, Giuse Vũ Duy Thống đến dâng thánh lễ tạ ơn mừng 50 năm thành lập giáo xứ, kỷ niệm 1 năm cung hiến nhà thờ và làm phép tháp chuông mới. Cùng đồng tế có 40 linh mục, đông đảo tu sĩ chủng sinh quý khách xa gần và bà con giáo dân Tư Tề chung lời tạ ơn.

Xem hình ảnh

Đường vào Tư Tề nhỏ hẹp và uốn lượn quanh co, phải qua mấy lần quẹo trái rẽ phải mới đến nơi. Quang cảnh miền quê êm ả, trải dài những vườn cây xanh ngát thanh bình. Nhà thờ khang trang bề thế, tháp chuông hùng dũng cao vút, khuôn viên thoáng rộng rợp bóng cây xanh.

Mừng kim khánh thành lập, giáo xứ đã tổ chức đêm văn nghệ “Nhạc khúc tri ân” và “Lời tạ ơn”, với những diễn viên “cây nhà lá vườn” diễn lại lịch sử qua nhạc cảnh với những dấu ấn thời gian và những khúc ca điệu múa dâng lời cảm tạ. Hạt giống Nước Trời được gieo xuống đất và lớn lên từng ngày. Hồng ân Thiên Chúa diệu vợi tuôn tràn để sức sống Nước Trời nở rộ trên miền đất mới màu mỡ suốt hành trình nửa thế kỷ. Giờ đây, Tư Tề là một xứ đạo phát triển mọi mặt. Có thành quả hiện tại như những bó lúa nặng hạt, thế hệ sau ghi nhớ công ơn những thế hệ trước đã gieo trong vất vả và vun trồng trong nắng mưa và cũng đong đầy niềm vui hạnh phúc.

Nhìn lại hành trình 50 năm, có đựơc thành quả hôm nay như những bó lúa nặng hạt để không bao giờ quên ơn những người đã gieo trong gian truân, trồng trong vất vả. Nhìn lại hành trình 50 năm, như là một nhắc nhớ về cội nguồn “con người có tổ có tông, như cây có cội như sông có nguồn”. Nhờ đó mà mọi thành viên trong Giáo xứ luôn tâm niệm rằng “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.

Ðể có được một ngôi nhà thờ mới, một tháp chuông mới, ba quả chuông mới, một nếp sống đạo mới, cộng đoàn và nhất là mục tử đứng đầu cộng đoàn, đã phải dấn thân vào bao nhiêu vất vả. Nhưng các ngôi sao chỉ hiện lên lung linh lúc trời chìm vào bóng tối. Cũng vậy, qua thử thách, người ta mới thấy được những tâm hồn có bản lĩnh.

Giáo xứ Tư Tề được thành lập từ cuối năm 1960. Khoảng 1.000 giáo dân di cư từ Thái Bình, Ninh Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Bùi Chu, Phát Diệm đến Đức Linh, khai phá vùng đất mới, bạt ngàn rừng cây, đất đai màu mỡ, sát bên bờ sông La Ngà. Nơi đây hoang vu, rừng thiêng nước độc, chim kêu vượn hú, đủ các loại thú dữ như beo cọp voi. Bà con giáo dân dựng tạm ngôi nhà lá đơn sơ làm nơi thờ phượng, sáng tối kinh hạt. Nơi này được gọi là Võ Đắt 2, Cha Giuse Nguyễn Quốc Công, Quản Xứ giáo xứ Võ Đắt vào dâng thánh lễ Chúa nhật.

Cuối năm 1961, Đức cha Marcel Piquet Lợi, Giám mục giáo phận Nha Trang thành lập giáo xứ Tư Tề thuộc Hạt Phan Thiết, nhận Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời làm Bổn Mạng.

Cha Giuse Maria Trịnh Quang Cảnh, Quản xứ tiên khởi (hiện nay nghĩ hưu tại giáo phận Bà Rịa) khởi công xây Nhà thờ từ năm 1962. Đến năm 1965, chiến tranh lan rộng nên ngài đã rời Tư Tề đưa một số gia đình tránh bom đạn.

Năm 1966, Cha Lê Văn Sinh về coi sóc Giáo xứ.Chiến tranh ác liệt hơn nên mới một năm, ngài lại phải ra đi lánh nạn.

Mãi đến năm 1969 mới có Cha Nguyễn Thanh Vân về nhận xứ. Rồi chiến tranh dữ dội quá, ngài cũng chỉ ở ba năm lại phải ra đi.

Cuối năm 1972, Cha Phêrô Thái Quang Nhàn đến chăm sóc đoàn chiên. Lúc này, có thêm một số giáo dân từ vùng Long Khánh, Biên Hòa, Thủ Đức và Tây Ninh đến Tư Tề sinh sống. Cha Nhàn cũng lại ra đi vì chiến tranh mịt mù những tháng đầu năm 1975. Sau biến cố 1975, một số giáo dân từ Miền Bắc đi kinh tế mới chọn miền đất màu mỡ nơi đây để lập nghiệp. Cha Augustinô Nguyễn Văn Lạc nhận xứ Tư Tề. Thời buổi quá khó khăn, gian khổ tư bề, chính quyền o ép quá sức nên Cha Lạc chỉ ở được ba năm rồi lại phải ra đi, sống nhiều năm lưu vong. Nhà thờ bị đóng cửa. Đàn chiên bơ vơ.

Giáo xứ chìm trong tăm tối suốt mười năm. Không linh mục, không thánh lễ, mọi sinh hoạt kinh hạt đều lén lút, âm thầm.

Niềm tin là sức mạnh lớn nhất trên thế gian này. Người có đức tin thì không gì có thể làm cho họ sợ hải, nản lòng hay chùn bước trước bách hại, gian truân. Chiến tranh đi qua để lại nhiều nổi đau thương mất mát. Bách hại đi qua, thêm nhiều chứng nhân đức tin kiên trung. Giáo dân Tư Tề đã sống mãnh liệt đức tin trong nhiều năm tháng cam go. Bà con giáo dân cuốc bộ đến nhà thờ Võ Đắt, Xuân Thành, Túc Trưng, Định Quán, xa hàng mấy chục cây số để tham dự Thánh lễ ngày Chúa Nhật. “Hãy chiến đấu đi qua cửa hẹp” (Lc 13,24). Theo cái nhìn của Thánh Luca thì không hẳn đi đường hẹp phải vất vả chiến đấu nhưng là chiến đấu vất vả để đi con đường này. Vì đường hẹp dẫn đến sự sống.

Năm 1989, Cha Clemente Trần Thế Minh đến Quản xứ. Sau ba năm ngài lại khăn gói ra đi vì cứ bị chính quyền gây khó dễ dài dài, nay mời mai triệu tập ra uỷ ban làm việc, đủ thứ việc để làm việc. Giáo xứ lại sống thêm mấy năm mồ côi nữa. Tuy gặp hoàn cảnh khó khăn đó, Tư Tề vẫn được Cha Fx Phạm Quyền, Hạt trưởng Hạt Đức Tánh quan tâm chăm sóc mục vụ, các sinh hoạt của giáo xứ vẫn được duy trì, các cha ở giáo xứ Chính Tâm và Võ Đắt đến dâng thánh lễ và ban các Bí tích.

Đến năm 1994, Đức cha Nicôlas Huỳnh Văn Nghi bổ nhiệm Cha Phaolô Lê Quang Luân về làm Quản xứ. Giữa bao bề bộn của một xứ đạo lắm truân chuyên, ngài thành lập các đoàn thể, thay mái nhà thờ, xây dựng tháp chuông làm nhà xứ. Các sinh hoạt xứ đạo từng bước đi vào nề nếp. Sau 9 năm phục vụ giáo xứ Tư Tề, cha đã tận tuỵ lo lắng phục vụ cho đoàn chiên.

Năm 2003, Cha Luân đổi nhiệm sở, Cha Đaminh Nguyễn Văn Hoàng về nhận xứ Tư Tề. Ngài xây thêm hội trường, nhà giáo lý, chỉnh trang khuôn viên Nhà thờ, thành lập hai hội đoàn huynh đoàn Đaminh và Dòng ba Phan Sinh.

Sau gần bốn năm miệt mài xây dựng giáo xứ, Đức Cha Phaolô Nguyễn Thanh Hoan bổ nhiệm ngài làm quản xứ Chính Tâm rồi sau đó về đặc trách Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ TàPao.

Năm 2007, Tư Tề vui mừng đón chào cha xứ trẻ trung, Phaolô Hoàng Đức Dũng. Trẻ để năng nổ xây Nhà thờ mới. Bề Trên thật khéo léo sắp xếp nhân sự. Sau 47 năm, nhà thờ cũ đã xuống cấp trầm trọng. Mặt tiền loang lỗ nhiều vết nứt dễ ngã đổ. Cây gỗ đã mục vì mối mọt. Giáo dân ngày càng đông mà Nhà thờ thì nhỏ bé, dột nát nên cần phải xây mới Nhà thờ xứng đáng, khang trang.

Lễ đặt viên đá là khởi đầu cho một công trình xây dựng. Tư Tề có 2.500 giáo dân đạo đức và nhiệt thành mọi công việc Nhà Chúa.

Ngày 09-03-2009 khởi công xây dựng với sự chung sức chung lòng, góp của, góp công của giáo dân toàn giáo xứ. Sau 15 tháng thi công, nhà thờ đã hoàn thành.

Ngày 22-06-2010 Đức Cha Giuse, Giám Mục Giáo Phận Phan Thiết đã về dâng thánh lễ Tạ Ơn và Cung hiến nhà thờ mới.

Ngày 02-07-2011, giáo xứ khởi công xây dựng tháp chuông và 2 phòng giáo lý. Sau 6 tháng xây dựng, công trình hoàn thành.

Song song với việc xây dựng cơ sở vật chất, cha Phaolô Dũng đã nâng cao đời sống tinh thần, củng cố các hội đoàn: Gia trưởng, các Bà mẹ Công Giáo, Lêgiô, huynh đoàn Đaminh, Phan sinh Tại thế và quan tâm nhiều đến giới trẻ và các em thiếu nhi.

Ở bất cứ nơi nào trên thế giới, nhà thờ luôn là biểu trưng của cuộc sống. Nhà thờ là nhà của con người, chính nơi đây con người nhận lấy sự sống mới và cũng chính nơi đây, con người được yên nghỉ sau cuộc sống tạm bợ nơi trần gian. Nhà thờ còn là nơi chứng kiến biết bao buồn vui của kiếp người. Nhà thờ là nơi gặp gỡ giữa trời cao đất thấp là nơi gặp gỡ giữa con người với Thiên Chúa. Nhưng quan trọng hơn cả, nhà thờ là nơi gặp gỡ giữa người với người. Gặp gỡ trong lời cầu nguyện, gặp gỡ nhau trong chia sẻ, gặp gỡ nhau trong lời chào bình an, trong cái bắt tay của tha thứ, của hòa giải. Gặp gỡ nhau để nối kết vòng tay với người khác, gặp gỡ nhau để cùng trở lại cuộc sống với lòng hăng say và nhiệt thành hơn.

Sát bên nhà thờ có tháp chuông hướng về trời cao, những tiếng chuông không ngừng giục giã gọi mời giáo dân đến nhà thờ gặp gỡ Chúa và gặp gỡ nhau.

ĐGM Bùi Tuần có lần chia sẽ.

Khi đọc văn học các dân tộc, tôi thấy tiếng chuông những nơi thờ tự đã gây cảm hứng cho nhiều tác phẩm văn hoá nghệ thuật. Tiếng chuông phá những cô đơn, đem vào thẳm sâu lòng người những hy vọng, những tình thương và những lý tưởng.

Có lần thăm cố nhạc sĩ Văn Cao, tôi hỏi nhạc sĩ, xem đạo công giáo có gì ảnh hưởng đến việc sáng tác của nhạc sĩ không. Nhạc sĩ thưa: Có vài yếu tố. Trong đó có tiếng chuông nhà thờ. Và nhạc sĩ ngây ngất hát cho tôi nghe bài Làng tôi... "Từng tiếng chuông ban chiều, tiếng chuông nhà thờ rung".

Riêng với tôi, tiếng chuông nhà thờ là những tiếng gọi. Tôi nghe tiếng chuông nhà thờ, nhưng đàng sau tiếng chuông nhà thờ, tôi gặp thấy Chúa Giêsu. Người gọi tôi cũng bằng những lời xưa Người đã gọi, còn ghi trong Phúc Âm. Thí dụ những lời sau đây:

“Hãy sám hối” (Mt 3,2).
“Hãy ra khỏi mồ” (Ga 11,43).
“Hãy đứng dậy và bước đi” (Mt 9,5).
“Hãy từ bỏ mình, vâng phục thánh ý Chúa Cha” (Lc 22,42).
“Hãy tỉnh thức và cầu nguyện” (Lc 21,36).
“Hãy ra đi loan báo Tin Mừng” (Mt 28,19).

Như vậy, tiếng chuông nhà thờ là tiếng gọi mang chiều kích thiêng liêng. Tức là:
Hãy đến với một Ðấng thiêng liêng.
Hãy nhớ về một cõi thiêng liêng.
Hãy gắn bó với những giá trị thiêng liêng.
Hãy phục vụ sứ vụ thiêng liêng.

Chính nhờ chiều kích thiêng liêng này, mà con người nên cao thượng hơn, và những gặp gỡ giữa con người với nhau trong cuộc sống có ý nghĩa cao đẹp hơn. (x Thao Thức, Q3)

Hiệp ý tạ ơn với cộng đoàn Giáo Xứ Tư Tề và nguyện xin Thiên Chúa giàu tình thương ban phúc lành cho mọi người gần xa đã góp công góp của, góp cảm tình và mọi thứ giúp đỡ khác vào việc xây dựng những công trình phục vụ lợi ích chung, nhất là những công trình nhằm phát triển chiều kích thiêng liêng.
 
Giáo hạt Tiền Hải đón chào TGM Leopoldo Girelli
Văn Chiến
10:15 15/06/2011
THÁI BÌNH - Trong khuôn khổ chuyến thăm viếng mục vụ tại Giáo phận Thái Bình, sáng nay 15/06/2011, Đức Tổng Giám mục Leopoldo Girelli tới thăm viếng mục vụ Giáo hạt Tiền Hải tại giáo xứ Trung Đồng.

Tưởng cũng nên nhắc lại, Giáo Hạt Tiền Hải hiện có 13 linh mục và hơn 42 ngàn giáo dân, trong đó số giáo dân tại Giáo xứ Trung Đồng khoảng 6 ngàn.

Xem hình ảnh

Vào lúc 8h10, phái đoàn gồm có Đức Tổng L. Girelli, Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ - Giám mục Giáo phận và các nhân viên Toà Giám mục Thái Bình đã về tới giáo xứ Trung Đồng trong niềm hân hoan của khoảng 15 ngàn giáo dân.

Khởi đầu diễn văn chào mừng, cha Aug. Phạm Quang Tường – linh mục chánh xứ Trung Đồng, Trưởng Hạt Tiền Hải thay lời cho cộng đoàn dân Chúa nơi đây, nói lên tâm tình biết ơn tới Đức Thánh Cha Benedict XVI. Cha Tường nói: “… sự hiện diện của Đức Tổng Giám mục Leopoldo Girelli là biểu trưng nghĩa cử yêu thương của Giáo Hội Mẹ và sự quan tâm của Đức Thánh Cha đối với Giáo phận Thái Bình nói chung và cách riêng cho Giáo hạt Tiền Hải”. Đức Tổng L. Girelli cũng bày tỏ niềm vui khi được hiện diện với cộng đoàn dân Chúa trong Giáo hạt Tiền Hải. Ngài cũng khẳng định, Đức Thánh Cha rất yêu mến anh chị em giáo dân Việt Nam và cách riêng anh chị em Giáo hạt Tiền Hải hôm nay. Đức Tổng nói: “… hôm nay cha tới đây để mang tình cảm thân thương của Đức Thánh Cha tới anh chị em… ước chi ngày hôm nay trở thành niềm vui luôn mãi cho tất cả bà con giáo dân Tiền Hải”

Thánh lễ kính các Thánh Tử đạo Việt Nam do Đức Tổng Giám mục Leopoldo Girelli chủ tế được cử hành lúc 9h10. Mặc dù dưới sức nóng của ngày hè, cộng đoàn dân Chúa vẫn không thuyên giảm lòng tin và tinh thần hiệp thông trong bàn tiệc Thánh Thể. Trong bài giảng lời Chúa hôm nay, vị đại diện của Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến hai đặc tính Duy nhất và Công giáo của Giáo Hội. Khởi đi từ việc cầu nguyện, ăn chay và bố thí như là trung tâm của đời sống tâm linh, Đức Tổng khai mở cho cộng đoàn hiểu rằng: việc tìm kiếm danh dự bản thân không thể so bì với việc tìm vinh danh Chúa. Chính các Thánh Tử đạo Việt Nam đã tìm kiếm vinh danh Chúa trong âm thầm, nên các ngài hiện diện đích thật trong mầu nhiệm tình thương của Thiên Chúa và trở nên một lời chúc phúc cho Giáo phận chúng ta. Đức Tổng L. Girelli nói: “Tử đạo không phải là một sự kết án cho bằng hiệp nhất mọi người trong tình yêu Chúa Kitô. Đó là sự tận hiến loại trừ mọi bạo lực. Các ngài đã chết làm một với Đức Kitô và sự chết đó làm phát sinh nhiều cộng đoàn”. Ngài còn tiếp: “Các Thánh Tử đạo Việt Nam không vâng phục các hoàng đế là muốn khẳng định rằng: Giáo Hội không hoàn toàn đồng hoá với một văn hoá dân tộc thuần tuý hay một thể chế thuần tuý, mà là Giáo Hội dành chung cho mọi người”

Kết thúc Thánh lễ, Đức Tổng Giám mục ban phép lành của Đức Thánh Cha cho cộng đoàn Dân Chúa. Thánh lễ hôm nay đã khép lại, nhưng đức tin và lòng trung thành của con cháu các Thánh Tử đạo Đinh Văn Thuần và Đinh Văn Dũng sẽ còn triển nở luôn mãi trên mảnh đất quê hương Tiền Hải – Thái Bình.
 
GXVN Paris: Chia sẻ của Đại Diện Nhóm Gia Đình Trẻ về Năm Gia Đình và mừng tân Linh Mục
Trần Văn Cảnh
17:55 15/06/2011
Lễ Đức Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, GXVN Paris chào đón tân linh mục đến làm lễ mở tay và nghe chia sẻ của Đại Diện Nhóm Gia Đình Trẻ về Năm Gia Đình

Paris, 12/06/2011, Lễ Đức Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Cộng đoàn Giáo Xứ Việt Nam Paris chào đón tân linh mục Phêrô Maria TRẦN MẠNH HÙNG đến làm lễ mở tay và nghe Đại Diện Nhóm Gia Đình Trẻ chia sẻ về hội thảo Năm Gia Đình và Giới Trẻ.

1. Lễ mở tay của tân linh mục Phêrô Maria Trần Mạnh Hùng

Tân linh mục Phêrô Maria Trần Mạnh Hùng, gốc Địa Phận Hà Nội, đã được thụ phong linh mục chiều ngày 29/05/2011, hồi 15 giờ 30, tại Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ Mân Côi Lộ Đức, giáo phận Lộ Đức. Ngài đã dâng thánh lễ mở tay đầu tiên tại Hang Đá Lộ Đức lúc 6 giờ 45, ngày 30/05/2011.

Hôm nay, theo lời ngài kể lúc đầu lễ, ngài « rất vui mừng được Đức Ông mời đến dâng thánh lễ mở tay tại Giáo Xứ Công Giáo Việt Nam Paris ». Ngài cám ơn Đức Ông và Cộng Đoàn GXVN Paris đã cho ngài được cùng dâng thánh lễ Đức Chúa Thánh Thần Hiện Xuống tại giáo xứ. Và ngài xin mọi người cầu nguyện cho ngài luôn được Chúa Thánh Thần soi sáng và hướng dẫn, hầu trọn đời theo Chúa và làm vinh danh Chúa ». Mấy bà cụ ngồi hàng ghế sau tôi thì thào : « Trông cha hiền lành và thánh thiện quá. Thật diễm phúc cho các bậc sinh thành của ngài » !

2. Chia sẻ của Đại Diện « Nhóm Gia Đình Trẻ » về hội thảo Năm Gia Đình

Đại Hội Mục Vụ lần thứ 55 tại GXVN Paris, ngày 12-12-2010, đã quyết định lấy chương trình mục vụ của Tổng Giáo Phận Paris làm chương trình mục vụ của mình. Đức Hồng Y André Vingt-Trois đã trình bày hướng mục vụ dài hạn : ‘Giáo Xứ Loan Báo Tin Mừng’ (La paroisse en Mission). Năm ngoái 2009-2010, hướng về việc ‘Cổ võ ơn gọi tận hiến, đặc biệt ơn gọi và đời sống các linh mục’.

Năm nay, 2010-2011, hướng về việc ‘Thánh hóa gia đình và giới trẻ’. Đề tài này được triển khai trong sưốt năm mục vụ dưới bốn khía cạnh : 1) ‘Vợ chồng tạo thành mối tương quan và sống mối tương quan ấy suốt mọi lứa tuổi của đời sống’. 2) ‘Gia đình là trường dạy hiệp thông và tương hệ’, 3) ‘Gia đình là men nóng của xã hội’, 4) ‘Giáo Hội phục vụ gia đình, gia đình là tế bào của Giáo Hội’.

Mở đầu chương trình này, chủ nhật 12-12-2010, trong thánh lễ 11giờ 30, cộng đoàn đã được ông Bùi Trọng Khang, chủ tịch Hội Đồng Mục Vụ, chia sẻ về Thư Mục Vụ « Gia Đình và Giới Trẽ : Niềm Hy Vọng » do ĐHY André Vingt-Trois trình bày ngày 25.09.2010 tại Nhà Thờ Đức Bà để khai mạc Năm Gia Đình và Giới Trẻ.

Chúa nhật 13.02.2011, chúa nhật thứ VI thường niên, Bác sĩ Nguyễn Ngọc Đỉnh thuật lại với cộng đoàn khóa học thứ nhất của Tồng Giáo Phận về đề tài « Tình yêu vợ chồng », mà ông đã tham dự ngày 27-11-2010.

Chúa nhật 12/06/2011, Lễ Đức Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, sau bài Phúc Âm lễ 11 giờ 30, Đại Diện Nhóm Gia Đình Trẻ là anh Giang Minh Đức, đã chia sẻ với Cộng Doàn Giáo Xứ về khóa học thứ tư mà anh và một số thành viên của nhóm đã tham dự ngày 14.05.2011 vừa qua. Bài chia sẻ đã được anh và hai thành viên khác tóm lược rõ ràng. Xin trích nguyên văn như sau :

NĂM MỤC VỤ « GIA ĐÌNH VÀ GIỚI TRẺ »

BIÊN BẢN NGÀY HỘI THẢO 4 VỚI TỔNG GÍÁO PHẬN PARIS

-Đề tài: Giáo Hội phục vụ Gia Đình – Gia Đình, tế bào của Giáo Hội

-Địa điểm: Thánh Đường Sainte Anne de la Butte-aux-Cailles, 186 rue de Tolbiac, Paris 13è

-Thời gian: 08g45 đến 12g00

-Hiện diện: Tham gia ngày hội thảo 4 gồm có Đức Ông Jérôme BEAU, Cha Xứ Alexis LEPROUX, Ban Đặc Trách Sinh Hoạt, Ban Tiếp Tân, các chứng từ, các địa điểm mục vụ khác và khá đông giáo dân xa gần tề tựu tìm về. Riêng phía Giáo Xứ Việt Nam chúng ta, có Nhóm Gia Đình Trẻ (AC. Đức & Phượng và các cháu, C. Thùy Linh, A. Đại, A.Trung, C. Joséphine) và gia đình AC. Khiêm & Đào. Tổng cộng có khoảng trên dưới 100 người.

Chương trình :

08g45-09g00 : Tiếp đón và cầu nguyện

09g00-09g45 : Lời chào mừng và khai mạc của Đức Ông Jérôme BEAU

. AC. Clotilde & Nicolas SONGEUR điều khiển phần chia sẻ về các chứng từ (Phần 1)

09g45-10g00 : Cha Alexis LEPROUX hướng dẫn phương cách thảo luận về đề tài chính

10g00-11g00 : Chia nhóm thảo luận (Phần 2)

11g00- 11g15 : Giải lao

11g15-12g00 : Bài giảng kết thúc của Cha Alexis LEPROUX

Phần 1: Chứng từ của các AC. Clothilde & Nicolas SONGEUR, Jean-Christophe & Hélène ACHARD, Miguël :

Chia sẻ quá trình và kinh nghiệm sống Đức Tin của những gia đình Công Giáo trong xứ đạo từ sau ngày lãnh nhận bí tích hôn phối đến việc sống đạo trong gia đình, giữa cộng đoàn và ngoài xã hội: Nhìn chung, các anh chị là những người công giáo đạo hạnh, biết sống Đức Tin và mang Lời Chúa đến với mọi người qua những sinh hoạt hằng ngày từ trong gia đình đến sở làm và giáo xứ nơi mình ở. Với tinh thần trách nhiệm cao và phương cách làm việc dung hòa, cộng vào tác dụng của Chúa Thánh Thần qua việc cầu nguyện, các anh chị đã, ngoài công việc mục vụ hằng tuần với Cha Xứ, thành lập được một nhóm gia đình rất đoàn kết và yêu thương nhau, sống tinh thần công giáo, có những sinh hoạt đều đặn và thích hợp với mọi người từ đấng bậc cha mẹ đến các con cái hoặc bè bạn đủ mọi lứa tuổi, mọi thành phần...

Phần 2 : Chia nhóm thảo luận:

Để cho buổi thảo luận đạt kết quả tốt, Cha Alexis đề nghị mọi người chia ra thành nhiều nhóm nhỏ, tối đa độ 10 người, chia sẻ và trao đổi ý kiến qua 3 câu hỏi, dựa vào 2 tài liệu sau: Thư thứ nhất của Thánh Phao-lô Tông Đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô (4-31) và Thư của Chân Phước Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô Đệ Nhị gửi các gia đình (chương 13).

1- “Nền văn minh của tình yêu” được khai triển như thế nào trong thư thứ nhất của Thánh Phao-lô Tông Đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô (4-31)?

Muốn trả lời câu hỏi trên, trước tiên, chúng ta cần có chút khái niệm về “nền văn minh của tình yêu“: Thành ngữ “nền văn minh của tình yêu”, trong đó gia đình được đặt vào một vị thế căn bản, được xử dụng lần đầu bởi ĐGH Phao-lô Đệ Lục. Với thời gian và vì tầm ảnh hưởng quan trọng, dần dần thành ngữ này được đưa vào nền giáo huấn của Giáo Hội xưa và nay, nhất là thường được những đấng kế vị sau này nhắc đến như Chân Phước Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô Đệ Nhị cũng như ĐGH Bê-nê-đi-tô thứ 16. Trong thư gửi các gia đình (chương 13) Chân Phước Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô Đệ Nhị khẳng định: Nền văn minh thuộc về lịch sử của con người vì nó phù hợp với những nhu cầu thiêng liêng và đạo đức của con người. Được tạo ra giống hình ảnh Chúa, con người cũng được nhận lãnh sứ mệnh đi xây dựng một thế giới giống hình ảnh của Ngài. Từ đó, ra đời một “nền văn minh của tình yêu” mang sứ mệnh thiêng liêng và cao cả là “nhân đạo hóa thế giới”.

Vậy, để hoàn thành sứ mệnh đó, con người cần phải làm gì?

Trong thư thứ nhất của Thánh Phao-lô Tông Đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô (4-31), Ngài mời gọi mọi người hãy yêu thương nhau và sống trong một tinh thần hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, Đấng ban sự sống cho con người với những ân sủng cá biệt không ai giống ai, bằng cách mượn hình ảnh cụ thể và gần gủi nhất của con người là chính thân thể mình để nói lên sự liên kết khả dĩ của từng bộ phận trong thân thể đó, như sự liên kết giữa con người với Chúa: mắt để nhìn, tai để nghe, chân để đi, miệng để nói..tất cả, tuy là những bộ phận cá biệt nhưng đều lệ thuộc và bổ túc cho nhau để hiệp thành một thân thể. Khi chân đạp gai, mắt thương nhỏ lệ; lúc tay đùa, mắt cũng vui lây...hay “một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ“ đều nói lên ý nghĩa này.

Như vậy, muốn “nhân đạo hóa thế giới”, hay đúng hơn, muốn đạt đến một “nền văn minh của tình yêu”, con người cần phải biết yêu thương và sống với nhau, cho nhau và vì nhau trong tinh thần hiệp nhất với Chúa Thánh Thần. Đây cũng là lời mà Chúa Giê-Su đã từng dạy các môn đệ Ngài: “Anh em hãy yêu thương nhau như chính mình anh em vậy.”

2- Vì sao sự hiệp nhất giữa Sự Thật, Tự Do, và Tình Yêu là nền tảng của “nền văn minh tình yêu” ?

Cũng trong “Thư gửi các Gia Đình (chương 13)”, Chân Phước Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô Đệ Nhị nhận định: Có thể cho rằng “nền văn minh của tình yêu” được phồn thịnh và phát triển từ khi con người khám phá ra rằng chính Chúa là Tình Yêu (Jn 4, 8.16). Nền văn minh đó liên kết cách mật thiết với tình yêu mà Thần Khí luôn tuôn đổ trong tim mỗi người chúng ta cách nhân không (Rm 5, 5). Như vậy, trong “nền văn minh” đó đã có sẵn một sự tương quan giữa con người với Tình Yêu, tức với Chúa. “Ngài chỉ hành động cho tình yêu vì Ngài là Tình Yêu.” như lời giảng huấn của ĐGH Bê-nê-đi-tô thứ 16.

Chúa nói với chúng ta: “Hãy đi tìm Sự Thật vì Sự Thật sẽ giải thoát các ngươì (Jn 8, 32), bởi vì Sự Thật, và chỉ có Sự Thật mới chuẩn bị cho các ngươi một Tình Yêu đúng nghĩa”.

Qua đó, chúng ta hiểu được rằng Chúa là Tình Yêu và cũng là Sự Thật. Sẽ không có một tình yêu thật sự khi chúng ta không ý thức được rằng chính Chúa là Tình Yêu, cũng như sẽ không có một tình yêu thật sự khi tình yêu đó không đến từ Chúa.

Ngoài sự sống ra, Chúa còn ban cho chúng ta quyền Tự Do và sự Tự Do được làm người, làm con cái Ngài; nhưng đồng thời Ngài cũng cho chúng ta Trách Nhiệm được làm người, làm con cái Ngài. Nói vậy có nghĩa là Tự Do đi đôi với Trách Nhiệm. Xử dụng quyền Tự Do của mình là tôn trọng quyền Tự Do của người khác. Vì thế, một “nền văn minh của tình yêu“ cần được xây dựng trên một nền tảng liên kết bởi ba yếu tố: Tình Yêu, Tự Do và Sự Thật.

3- Tại sao gia đình là “trung tâm và là trái tim của nền văn minh tình yêu” ?

Gia đình là “trung tâm và là trái tim của nền văn minh tình thương” vì qua gia đình ta nhận ra được những dấu chỉ của sự hiệp nhất :

-Dấu chỉ về Sự Thật: Mỗi gia đình là một hình ảnh của “ân sủng và mầu nhiệm” (Don et Mystere) cá biệt mà Chúa ban cách nhân không như lời giáo huấn của Chân Phước Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô Đệ Nhị.

-Dấu chỉ về Tình Yêu: Mỗi gia đình đều có một lịch sử cá biệt và mỗi thành phần trong gia đình cũng thế. Hay nói đúng hơn, mỗi gia đình có một “nền văn minh tình yêu” cá biệt. Trong gia đình thường thể hiện một sự sống và liên kết hài hòa giữa nhiều thế hệ, sống trong nhau, cho nhau và vì nhau: chồng sống trong tim vợ, vợ sống trong tim chồng, vợ chồng sống trong tim con...Vì thế, gia đình còn được gọi là trung tâm của sự hiệp thông, là nơi sống và cũng là bàn hiệp thông của gia đình.

-Dấu chỉ về Tự do: Thường được phát triển hoặc thể hiện qua đời sống Đức Tin và sự sinh sôi, nảy nở của gia đình: tự do đi đến hôn nhân trước mặt Chúa; tự do trung thành với đời sống hôn nhân; tự do nhận lãnh trách nhiệm làm cha mẹ, nuôi dưỡng và hướng dẫn con cái nên người tốt, sống và trao truyền đời sống Đức Tin cho chúng...

Kết luận:

Nếu trong một quốc gia, gia đình được coi như là tế bào căn bản của xã hội thì đối với Chúa, gia đình cũng được ví như tế bào chính yếu của Giáo Hội, chứng nhân cho Tin Mừng. Qua gia đình, chúng ta hiểu rằng sẽ không có một đời sống thật sự nào khác ngoài đời sống vĩnh cữu mà Chúa đã mang lại cho con người. Và đời sống vĩnh cữu đó chỉ có thể đạt được bằng yêu thương và tha thứ; bằng nhận lãnh và cho đi cách nhân không; bằng đem Chúa đến với mọi người, mọi lúc, mọi nơi; bằng sống Đức Tin và làm chứng nhân cho Tin Mừng...

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà thế giới đang lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng về sự thật của những giá trị căn bản liên quan đến Con Người, Hôn Nhân, Gia Đình, Tình Yêu...bởi những trào lưu và luồng tư tưởng mới mạo danh cho “tự do”, “tình yêu“ và “sự thật” nhưng chỉ để đề cao chủ nghĩa cá nhân, tôn sùng lối sống hưởng thụ... Hơn bao giờ hết, gia đình cần được hướng dẫn, cảnh giác để luôn củng cố Niềm Tin hầu tránh những sa ngã có thể xảy ra. Và cũng hơn bao giờ hết, Giáo Hội càng ước mong mỗi gia đình sẽ là một “ân sủng và mầu nhiệm” của Tình Yêu thật sự, mầu nhiệm xây dựng Giáo Hội, mầu nhiệm dẫn đường đến Chúa. Vì nền tảng của gia đình còn yếu đuối và tương lai của gia đình còn bấp bênh nên sứ mệnh của Giáo Hội là liên lũy hướng dẫn và đồng hành cùng gia đình để đi đến “nền văn minh của tình yêu”, một nền văn minh biết đem sự vui mừng đến cho người khác (vui mừng vì sự ra đời của đứa con đầu lòng, vui mừng vì được trở thành cha, thành mẹ lần đầu...), một nền văn minh biết thể hiện vui mừng trong Sự Thật. Văn minh tương lai của thế giới sẽ như thế nào? Tương lai gia đình sẽ đi về đâu? Câu trả lời còn tuỳ thuộc nhiều ở sự quyết định và dấn thân của các gia đình trong đời sống làm chứng nhân cho Tin Mừng.

“Giáo Hội luôn dang tay mời gọi mọi người, mọi thành phần, mọi gia đình...cùng nhau hiệp lực và mau dấn thân vào việc định hướng cho tương lai của con người hầu xây dựng một “nền văn minh tình yêu” thật sự (Chân Phước ĐGH Gioan Phao-lô Đệ Nhị, Angelus, 13-02-1994). (Joséphine, Thùy Linh và Giang Minh Đức)

Mọi người vỗ tay tán thưởng bài chia sẻ, trình bày rõ ràng và khúc chiết, rất dễ hiểu.

Cha mới Trần Mạnh Hùng tiếp tục dâng lễ.

Ca đoàn hát bài Lễ Dâng 6.

Lời ca thật hợp với LỄ MỞ TAY của TÂN LINH MỤC : người vừa « Tiến dâng Ngài ngàn muôn ca khúc tri ân. Cha nhân hiền tình yêu cao ngất thẳm sâu. Hiến dâng Ngài trọn thân xác linh hồn, trọn mơ ước trong đời, ngày nay cho đến thiên thu ».

Paris, ngày 15 tháng 06 năm 2011

Trần Văn Cảnh
 
Thắp sáng tin yêu cho người sống trên thuyền chông chênh
Hội Dòng MTG Thanh hóa
21:11 15/06/2011
Thắp sáng tin yêu cho người sống trên thuyền chông chênh

Ngày 14/06/2011, Cha Phanxicô Xaviê Trịnh Tuấn Hoàng, linh hướng Hội Bác Ái Phanxicô, các thành viên của Hội, cùng với Cha Antôn Trịnh Đình Thiệu, Giám đốc Caritas Thanh Hóa và một số chị em nữ tu Hội Dòng Mến Thánh Giá Thanh Hóa - đã đến thăm và phát quà cho 180 gia đình dân chài thuộc Giáo xứ Đông Quang, Giáo Phận Thanh Hóa, xã Hà Hải- Hà Trung-Tỉnh Thanh Hóa.

Xem hình trợ giúp dân chài Thanh Hóa

Chúng tôi đến nơi vào lúc 08giờ sáng, xe dừng lại trên một con đê nhìn xuống dòng sông Hoạt uốn khúc. Hình ảnh đầu tiên mà chúng tôi gặp được là những ánh mắt ngong ngóng và chất chứa hy vọng của những người từ cụ ông, cụ bà đến các em thơ đang chờ chúng tôi. Men theo bờ đê, chúng tôi đã xuống đến những “thuyền không xuồng trống”. Đó là “ngôi nhà” mà họ mà suốt đời gắn bó, có người 20, 30 năm và còn hơn nữa có người đã 90 năm ... gửi gắm cuộc đời nơi dòng sông này trong cảnh thiếu thốn . Chiếc thuyền nhỏ hẹp, không thể tiện nghi vì nghèo, lại phải dành chỗ cho gia đình khoảng 7 đến 8 người sống. Có những gia đình phải thuê thuyền để làm nơi sống và kiếm kế sinh nhai. Chúng tôi không thể tưởng tượng được họ sẽ xoay sở thế nào với cái nắng gay gắt khi hè về không điện, không quạt? Tôi thật bất ngờ trước câu nói của một cụ già : “không nóng vì nếu nóng thì xuống tắm...”! Người ta thì máy lạnh, quạt này, quạt kia mà vẫn chưa thấm vào đâu, còn những con người nổi trôi này thì tất cả nhờ vào gió thiên nhiên, vào dòng sông, dù trong, dù đục...

Bây giờ họ là dân chài, có lẽ lý do chính bởi họ sống lênh đênh trên sóng nước hơn là nghề nghiệp, vì đã gần chục năm nay, đồ nghề của họ đã gác mái. Không hiểu sao tôm cá rủ nhau bỏ đi hết, nên một số đã chuyển nghề đánh cá sang nghề đánh cát, một nghề rất vất vả, cực nhọc mà thu nhập cũng chẳng hơn được bao nhiêu. Còn có những chiếc thuyền chỉ đậu một chỗ, là mái ấm của ông bà già không còn sức lao động, sống trông chờ vào sự chia sẻ và lòng hảo tâm của mọi người. Đúng là cuộc đời của họ bấp bênh như chiếc thuyền trên dòng nước.

Trong sự thiếu thốn ấy, hôm nay Hội Bác ái Phanxicô đã gửi tặng bà con, mỗi gia đình 1chiếc đèn năng lượng mặt trời và 10 kg gạo. Đã từ lâu, bà con thiếu ánh sáng, nên khi đón nhận chiếc đèn này, trên khuôn mặt mọi người đều rạng rỡ lên niềm vui. Có bà tâm sự: “đã gần hết đời người chúng con lầm lủi trong ánh sáng của cây đèn dầu, hôm nay chúng con thật hạnh phúc và sung sướng”. Món quà thật ý nghĩa.

Thay lời cho các gia đình dân chài nơi đây, chúng con xin chân thành cám ơn tấm lòng vàng của Quí ân nhân Hội Bác ái Phanxicô. Dù ở rất xa, nhưng Quý Vị đã hiểu nỗi khổ và sự thiếu thốn của bà con, Quý Vị đã trao hơi ấm tình thương, sự quan tâm, thông cảm và sẻ chia vật chất cho họ. Đó là những cách thế rất quý để an ủi những mảnh đời sống trong cảnh nghèo khó ấy. Họ đang và luôn rất cần đến tấm lòng trắc ẩn và quảng đại của tất cả mọi người.

Hội Dòng MTG Thanh hóa

10/626, Bà Triệu- p. Trường Thi- T.P. Thanh hóa
 
Bênh vực công lý và Giáo Hội
Sóng Biển Đông đang dâng cao:
Dominic David Trần
16:58 15/06/2011
Sóng Biển Đông đang dâng cao: Tin đáng chú ý.

BẮC KINH, ngày 15/06/2011, theo các Thông Tấn Xã Công Giáo AsiaNews /Agencies: Bắc Kinh loại trừ việc sử dụng vũ lực, nhưng lưu ý cho phía Hoa Kỳ biết là Trung Cộng đang cố gắng giảm mọi căng thẳng với cả 2 nước Việt Nam và Phi luật Tân. Trung Cộng đang thúc dục 2 nước này “ làm nhiều việc hơn nữa vì hòa bình và ổn định (sic)”. Trung Cộng muốn các vấn đề được giải quyết dàn xếp thông qua các cuộc đàm phán song phương nghĩa là Trung Cộng muốn mặc cả với riêng lẻ từng nước địch thù. Ngược lại chính phủ tại Hà Nội tỏ rõ là họ ưa thích phương thức bàn thảo “tiếp cận đa phương” nghĩa là chuyện phải bàn luận giữa các bên có lợi ích và quan tâm đến chủ quyền tại Biển Đông. Trong khi đó, chính phủ Manila lại thẳng thắn yêu cầu Hoa Kỳ giúp đỡ. Trung Cộng cảnh cáo là “ việc quốc tế hóa ” vấn đề Biển Đông sẽ làm cho sự việc xấu hơn nữa .

Bắc Kinh cho biết, Trung Cộng sẽ không sử dụng vũ lực trong các tranh chấp ở khu vực Biển Đông (tức là Biển Hoa Nam theo cách nói nhận vơ cả nắm của phía Trung Cộng). Tuy nhiên, phía Trung Cộng nói, " Các quốc gia không trực tiếp có liên quan hay có dính máu ăn phần ở khu vực này thì nên xê ra chỗ khác chơi (trong nguyên văn tiếng Anh; “Countries not directly involved” should keep out.) Các quan chức của chính phủ Trung Cộng đã tuyên bố thẳng thừng với Hoa Kỳ như vậy, trong khi đó 2 quốc gia Việt Nam và Phi Luật Tân đang tìm sự giúp đỡ của Hoa Kỳ nhằm kháng cự lại những tham vọng của Trung Cộng lục địa. Các quan chức và Thông tấn xã của chính phủ Trung Cộng trong ngày hôm qua đã cảnh cáo rằng việc quốc tế hóa các tranh chấp ở khu vực Biển Đông sẽ chỉ làm cho tình hình tệ hại hơn và họ nhấn mạnh rằng các vấn đề này có thể chỉ được giải quyết thông qua các cuộc tham vấn- bàn thảo song phương giữa các quốc gia đã có khẳng định chủ quyền công khai trên khu vực Biển Đông.

Phát biểu của phía Bắc Kinh được nêu ra ngay sau khi có các cuộc tập trận Hải Quân bắn bằng đạn thật của Quân đội Cộng Sản Việt Nam trên Biển Đông vào ngày thứ Hai 13/06/2011. Phía Hà Nội cho rằng đây chỉ là những cuộc tập trận Hải Quân theo thường lệ và định kỳ; thế nhưng phía Trung Cộng lại bác bỏ lập luận này. Cùng ngày đó, Việt Nam công bố một sắc lệnh tổng động viên do Thủ Tướng chính phủ Hà Nội Nguyễn Tấn Dũng ký. Sắc lệnh này đặc biệt nêu rõ những ai sẽ được miễn hoãn lệnh tổng động viên nhập ngũ trong trường hợp có chiến tranh. Cuộc chiến tranh (Chiến thắng) cuối cùng của Việt Nam chống lại Trung quốc đã xảy ra vào năm 1979.

"Chúng tôi sẽ không tính đến việc sử dụng vũ lực hay đe dọa bằng vũ lực. Hồng Lợi, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Cộng đã tuyên bố như vậy. Tuy nhiên , ông ta " lên án bất kỳ những hành động nào có thể làm thổi bùng lên các tranh chấp , và thúc dục các bên có liên quan hãy làm nhiều việc mang lại lợi ích cho nền hòa bình và sự ổn định trong khu vực (sic)." Phát ngôn viên Hồng Lợi của Bộ Ngoại Giao Trung Cộng còn nói thêm rằng; " Các quốc gia không có liên quan trực tiếp đến khu vực này hãy nên tôn trọng các nỗ lực của các quốc gia có liên quan trực tiếp đến khu vực này để giải quyết vấn đề thông qua các cuộc thương thảo mặc cả trực tiếp (negotiations). (sic - ở thế kỷ thứ 21 sao lại có những hạng ăn nói trơ trẽn và không biết đến xấu hổ như vậy- ở thời đại vệ tinh điện tử mà vẫn có người cho mình có quyền vừa ăn cướp-vừa đốt nhà- vừa la làng - và lại có thêm quyền dạy đời. Họ cho mình có quyền mục hạ vô nhân, không coi ai ra gì cả? ; sic) Lời ám chỉ này rõ ràng là nhắm thẳng vào Tổng Thống Benigno Aquino III của Phi Luật Tân- người mới đây đã tuyên bố rằng nước Phi Luật Tân của ông ta chắc sẽ có lợi ích từ sự giúp đỡ cuả Hoa Kỳ trong cuộc tranh chấp căng thẳng với Trung Cộng. Phía Hoa Thịnh Đốn , trong thực tế, đã quan tâm đến việc kiểm soát khu vực này.

Tổng Thống Benigno Aquino III nói rằng ông ta sẽ đổi tên khu vực biển tranh chấp với nước ông trở thành tên mới: Biển Miền Tây Phi Luật Tân (West Philippine Sea ). Đối với Tổng Thống nước Phi Luật Tân thì sự hiện diện của Hải Quân Hoa Kỳ trong khu vực này sẽ bảo đảm cho quyền Tự Do Hàng Hải và An ninh Khu vực - đem lại thuận tiện cho việc giao thương đi lại trên Biển Đông.

Về phía mình, Hà Nội đang tích cực cổ vũ một phương thế tiếp cận đa phương để giải quyết tranh chấp , nói chuyện nhiều bên - theo lối nói của Hà Nội. Thế nhưng, phía Bắc Kinh lại bác bỏ cách thế này. Trung Cộng lại ưa cái cách thương thảo mặc cả riêng lẻ với từng quốc gia một trong khu vực này (sic, cái thời đại đánh du kích, đánh qủa lẻ, đi ăn mảnh dấm dúi, lén lút riêng lẻ của những lái buôn chính trị , bán nước buôn dân đã qua rồi. Cứ xem lại những mật điện của các quan chức thuộc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ qua sự việc WiKi- Leaks mới đây thì có thể rút ra biết bao điều.)

Các xung đột căng thẳng vốn có trong những ngày gần đây càng xấu hơn qua 2 sự kiện riêng biệt liên quan đến việc va chạm tàu thuyền giữa Việt Nam và Trung Cộng, giữa Trung Cộng và Phi Luật Tân ở ngoài khơi 2 Quần Đảo Trường Sa và Hoàng Sa (Spratly and Paracel Islands.)

Theo một học giả Trung Cộng, một sự kiện đã xảy ra trong thực tế là Thủ Tướng Cộng Sản Bắc Việt ngày đó là ông Phạm Văn Đồng đã gởi một điện văn cho Thủ Tướng Trung Cộng Chu Ân Lai vào năm 1958 - đã công nhận lập luận đòi chủ quyền của Trung Cộng trên các Quần đảo Trường Sa của Việt Nam (là Tây Sa - Xisha theo cách nói của Trung Cộng) và Hoàng Sa của Việt Nam (là Nam Sa - Nansha - theo cách nói của Trung Cộng) đã càng tăng thêm sức cho lập luận chủ quyền của Trung Cộng. ( Sic, dẫu cho cá nhân những tên Trần Di Ái, Trần Ích Tắc, Mạc Đăng Dung, và Lê Chiêu Thống tân thời có ký bao nhiêu giấy đi nữa cũng không có một chút gía trị pháp lý cỏn con nào căn cứ theo Công Ước Liên Hiệp Quốc và theo nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ - chủ quyền tối thượng của quốc gia thuộc về toàn dân.)

Giữa các quốc gia trong khu vực Á Châu-Thái Bình Dương, Trung Cộng cho rằng họ có chủ quyền rộng lớn nhất trên Biển Đông (tức là Biển Hoa Nam theo cách gọi của Trung Cộng) bao gồm các Quần Đảo Trường Sa và Hoàng Sa không có dân cư nhưng lại có những ngư trường rất giàu tài nguyên thủy hải sản và lãnh hải với những tiềm năng rất quan trọng về dầu và khí đốt thiên nhiên.

Lập luận đòi chủ quyền ngang ngược về " Vùng Lưỡi Bò" của phía Trung Cộng cũng phản ảnh mục tiêu chiến lược của chủ nghĩa Bá Quyền của nước lớn cậy mạnh, muốn kiểm soát việc giao thương và phát triển khai thác tất cả khoáng sản tài nguyên trong khu vực nhất là trên lĩnh vực dầu và khí đốt thiên nhiên. (Beijing’s claims also reflect its strategic goal of hegemonic control over trade and mineral development, above all oil and natural gas.)

Thế nhưng những tham vọng đầy thách đố và ngạo mạn của phía Trung Cộng đã không dễ dàng tiến hành êm xuôi như ý họ muốn. Các địch thủ của Trung Cộng bao gồm Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Brunei, Đài Loan; và cả Hoa Kỳ vốn có các lợi ích chiến lược riêng của Hoa Kỳ trong khu vực này (Contenders include Vietnam, the Philippines, Malaysia, Brunei and Taiwan, as well as the United States, which has its own strategic interests in the region.) Các quốc gia này sẽ không làm ngơ, và sẽ không để cho Trung Cộng hung hăng muốn làm gì thì làm.

Tô Kiều Phong Ji Qiufeng, giáo sư Trường Quan hệ Ngoại giao thuộc Đại Học Nam Kinh nói là phía Bắc Kinh cần thi ết phải nói rõ cho phía Việt Nam biết rằng; “ bất cứ những thách thức nào về chủ quyền lãnh thổ của Trung Cộng trên Biển Hoa Nam sẽ không thể đạt thắng lợi.”

Các quan chức của Đệ Thất Hạm Đội Hải Quân Hoa Kỳ đã xác nhận rằng một tuần dương hạm sẽ đến Đà Nẵng vào tháng tới để tham gia diễn tập Tìm ki ếm và Cứu hộ như là một phần của mô thức tập trận hàng năm với các đồng minh và đối tác của Hoa Kỳ trong khu vực Đông Nam Á ; bao gồm Hải Quân các quốc gia Thái Lan, Nam Dương, Mã Lai Á và Phi Luật Tân.

Tuy nhi ên,phía Bắc kinh sẽ theo dõi sát sao sự hiện diện của các chiến hạm Hải Quân Hoa Kỳ trong khu vực Biển Đông đang tranh ch ấp mà gần đây Trung Cộng tự vơ vào là Biển Hoa Nam “ Khu vực Lưỡi Bò” của họ.

Và vì vậy, Tuần Dương Hạm thuộc Đệ Thất Hạm Đội Hải Quân Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, SS John S. McCain (hình chụp kèm theo) có thể lại sẽ đến Việt Nam trong tháng sắp tới để tham gia tập trận chung với Hải Quân Cộng Sản Việt Nam và. (Ghi chú: Tuần Dương Hạm này mang tên 2 đời Đô Đốc Hải Quân Hoa Kỳ là ông nội và là cha của Thượng Nghị Sĩ John McCain, Thiếu tá Phi công Hải Quân Hoa Kỳ - người tù binh chiến tranh một thuở tại Nhà Giam Hoả Lò Hà Nội - Hilton Hà Nội theo đùa cợt.) Nghĩ tấn trò đời thật oái ăm và tai ác, như môi với răng ngày xưa thì nay lại đâm ra cắn xé nhau; ngày xưa nhục mạ nói xấu kẻ thù này là thằng này thằng nọ mà ngày nay lại phải khuất thân đến cầu xin van nài kẻ thù cũ. Cái lối ăn đằng sống nói đằng gió và ghét nhau đổ đất chôn đi- xem ra không có hậu. Ngày xưa cố đuổi xua người ta đi khỏi vịnh Subic nay lại tha thiết mong mỏi họ quay về.

Dominic David Trần
 
Văn Hóa
Đức tin hằng sống
Jos. Tú Nạc, NMS
08:20 15/06/2011
Lạy Chúa,
Hãy cho con một đức tin mạo hiểm,
Lòng can trường để cố gắng tốt tươi,
Một ý chí sắt son dù bóng tối,
Biết lối đi để con đến với Người.
Hãy cho con đức tin của khát khao, hy vọng,
Thôi thúc nội tâm để con được hoàn thành
Cả mọi sự để bên Người con sống.
Ôi lạy Chúa, sự bất tín mỏng manh!
Hãy cho con đức tin sự nhận biết
Của mỹ miều hiện diện khắp muôn nơi,
Mà ánh mắt nhìn , và tai nghe thấy -
Một trái tim rộng mở để đón mời.
Hãy cho con một đức tin hằng sống,
Niền hân hoan và tan biến kinh hoàng.
Một đức tin huy hoàng như bình minh rực rỡ
Của ngày này mà Người đã tạo thành!
 
Đẹp thay! Đại hội CGVN tại Đức quốc
Thanh Sơn
21:22 15/06/2011
Đẹp thay! Đại Hội chúa Thánh Thần
Hằng năm hội ngộ khắp xa gần
Già trẻ lớn bé đều tham dự
Hòa thành nhịp sống đẹp gian trần

Đẹp thay! Đại Hội Chúa Thánh Thần
Từ nam chí bắc tỏ tình thân
Chung tay tiếp sức cùng thăng tiến
Như muôn hoa nở rất ân cần

Đẹp Thay! Đại Hội Chúa Thánh Thần
Như muôn mầu sắc giữa mùa xuân
Hương thơm vương vấn còn thơm mãi
Hoa qủa mùa xuân của Thánh thần

Đẹp thay! Đại hội Chúa Thánh Thần
Hằng năm tìm về lãnh Thiên Ân
Aschaffenburg vương dấu ấn
Con đường hoa kiệu MẸ ân cần

Đẹp thay! Đại Hội Chúa Thánh Thần
Cung đàn tiếng hát đẹp Thiên ân
Tiến hoa sắc thắm dâng về Mẹ
Tình Mẹ La Vang Mẹ rất gần

Đẹp thay! Đại Hội Chúa Thánh Thần
Bảy ơn cần kíp để canh tân
Hòa giải ơn CHA con lãnh nhận
Cho hồn tươi trẻ ngợp hồng ân

Đẹp thay! Đại Hội Chúa Thánh Thần
Tìm về chính lộ tránh phù vân
Mấy ngàn tâm hồn dâng Tổ Quốc
Việt Nam vượt thoát ách cơ bần

Đẹp Thay! Đại Hội Chúa Thánh Thần
Hoa trái đầu mùa của Linh Ân
Liên Đoàn Công Giáo vươn sức sống
Nhịp cầu nối kết tỏa tình thân

Tưng bừng Đại Hội tạ ơn CHA
Bao nhiêu hồng ân bấy nhiêu qùa
Đem về chia sẻ trong cuộc sống
Hẹn nhau năm tới lại nở hoa.

14.06.2011
 
Ảnh Nghệ Thuật
Trang Ảnh Nghệ Thuật Chiêm/Niệm/Thiền: Cây Trái Vườn Nhà
Diệp Hải Dung, Australia
21:56 15/06/2011
CÂY TRÁI VƯỜN NHÀ
Ảnh của Diệp Hải Dung, Australia,
Ta ở Xóm Láng, vốn nhà trồng rau
Rau thơm, rau húng, rau mùi
Thì là, cải cúc, đủ loài hành hoa
Mồng tơi, mướp đắng, ớt, cà
Bí đao đậu ván vốn nhà trồng nên…
(Ca dao)

Click here to go to PhotoArt Meditation Room - Phòng ảnh Nghệ Thuật và Chiêm/Niệm/Thiền