Ngày 06-01-2026
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
KHỎI CHÌM
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
16:01 06/01/2026
KHỎI CHÌM

“Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!”.

Các nhà nghiên cứu cho biết: ba mươi năm trước, trẻ em sợ bóng tối, độ cao hay tiếng động lớn; ngày nay, trẻ sợ ly hôn, chiến tranh và bị bắt nạt. Những nỗi sợ này không làm chết ngay, nhưng bào mòn cảm giác được yêu thương; và trong bất an, con người cảm thấy như đang chết chìm.

Kính thưa Anh Chị em,

Như vậy, điều con người sợ nhất không chỉ là các biến cố, nhưng là sự thiếu vắng tình yêu. Lời Chúa hôm nay vang lên như một xác quyết: ở đâu có tình yêu, ở đó ‘khỏi chìm!’.

Tin Mừng không kể một câu chuyện lãng mạn về biển, nhưng kể một đêm rất thật - gió ngược, thuyền sắp chìm, sức người cạn kiệt. Điều làm các môn đệ hoảng loạn không hẳn là sóng lớn, mà là cảm giác ở một mình giữa mênh mông; đó là cảm giác thiếu vắng tình yêu - vốn luôn dấy lên sợ hãi! Chính trong khoảnh khắc ấy, Chúa Giêsu đến, không để trách móc, không để chứng tỏ quyền năng, nhưng để nói một lời đủ giữ họ lại: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây!”. “Tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi!” - bài đọc một.

Marcô ghi lại một chi tiết rất lặng, trong khi các môn đệ đang vật lộn với sóng gió, Chúa Giêsu đang đi cầu nguyện. Cầu nguyện không làm Ngài xa cách, trái lại, đặt Ngài vào trung tâm nỗi bấp bênh của con người. Chính từ cầu nguyện, Ngài bước ra, đi trên sóng, tiến về những người đang tuyệt vọng. Ngài không đến để dập tắt sóng, nhưng để giữ họ ‘khỏi chìm’. “Khổ đau không phải là cách Thiên Chúa trừng phạt, mà là cách Ngài mời gọi chúng ta đến gần Ngài hơn!” - Richard Foster.

Biển trong Thánh Kinh thường tượng trưng cho thế giới bất ổn; sóng là hình ảnh của những lực cản vượt tầm kiểm soát. Không ai được hứa là sẽ không gặp sóng; nhưng người tin được hứa, sóng không là tiếng nói sau cùng! Chúa Giêsu không kéo các môn đệ ra khỏi sóng; Ngài ở đó để thuyền không chìm. Ngài không đòi họ mạnh hơn sóng; Ngài cho họ biết họ đang được yêu thương. “Chúa Giêsu đã giẫm lên những con sóng; Ngài đặt mọi xáo trộn phù nề dưới chân mình. Tại sao Kitô hữu phải sợ?” - Augustinô. Khi mọi giải pháp nhân loại tỏ ra bất lực, bánh lái không còn hữu dụng và cánh buồm chỉ làm tăng nguy hiểm, điều còn lại không phải là đầu hàng, nhưng là ở lại và kêu cầu. Và chính trong sự ở lại ấy, ơn cứu độ hình thành. “Chúng ta phải ôm lấy nỗi đau và đốt nó như nhiên liệu cho hành trình của mình!” - Kenji Miyazawa.

Anh Chị em,

“Cứ yên tâm, chính Thầy đây!”. Chúa Giêsu không hứa cho ai một hành trình không sóng, nhưng hứa một sự hiện diện. Việc của chúng ta là nhận ra Ngài, kêu cầu Ngài. Cầu nguyện không chỉ khi còn mạnh, mà còn là khi không còn gì để nắm, khi thôi giả vờ mình có thể tự đứng vững. Chính nơi không còn gì ấy, sự hiện diện của Ngài nói rằng, con người vẫn được yêu thương; nhờ đó, nó không chìm, dù đang ở giữa sóng. “Đôi khi cách Thiên Chúa đáp lại không phải là loại bỏ áp lực, mà là tăng sức mạnh để chịu đựng nó!” - Elizabeth George.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con không xin Chúa cất sóng khỏi đời con; chỉ xin Ngài ở lại. Con biết, niềm tin con mỏng như mặt nước, xin cho tình yêu Ngài đủ sâu để con ‘khỏi chìm!’”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
 
Mỗi Ngày Một Câu Danh Ngôn Của Các Thánh
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. ·
20:51 06/01/2026

94. Người khiêm tốn trong lòng thì bên ngoài không cao ngạo, hoàn toàn bắt chước Chúa Cứu Thế khiêm tốn của chúng ta, và họ sẽ được triều thiên đẹp đẽ.

(Thánh nữ Bernadette)

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

(Trích dịch từ tiếng Hoa trong "Cách ngôn thần học tu đức")


----------

http://www.vietcatholic.net

https://www.facebook.com/jmtaiby

http://www.nhantai.info
 
Mỗi Ngày Một Câu Chuyện
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. ·
20:57 06/01/2026
39. QUAN HUYỆN TAY DÀI

Có một tên quan thường thúc bá tánh đóng thuế rất khắc nghiệt, lại còn tìm trăm phương ngàn kế để bắt bí, để kiếm đầy túi tiền, cho nên bá tánh rất oán hận.

Có người làm một câu vè như sau:

- “Tay của quan huyện rất dài”.

Quan huyện bắt người làm câu vè này ra tòa và nghiêm khắc tra hỏi, tác giả câu vè cười nói:

- “Nếu lão gia tay ngắn làm sao có thể ôm được thái dương, nếu ôm không được thái dương, thì thiên không làm sao có thể hừng nắng, nếu thiên không không thể hừng nắng, thì người ta làm sao có thể gọi lão gia là thanh thiên?”

Huyện quan cười lớn bèn tha tội cho anh ta.

(Khán Sơn Các Nhàn bút)

Suy tư 39:

Biết người ta chơi xỏ mình, oán hận mình, chửi xéo mình nên còng tay người ta, nhưng đến khi nghe họ tâng bốc mình thấu trời xanh, thì lại khoái chí và tha cho họ, thế mới biết lời nịnh hót thật có “uy lực” đáng nể thật.

Lời nịnh hót tâng bốc thì không bao giờ được xuất phát từ con tim chân thành, nhưng xuất phát từ đầu môi chót lưỡi.

Lời cầu nguyện của người Ki-tô hữu cũng vậy, nếu lời cầu nguyện không xuất phát từ con tim yêu mến, thì chẳng khác chi lời nịnh hót tâng bốc Thiên Chúa, mà Thiên Chúa thì đâu cần lời nịnh hót tâng bốc của chúng ta, Ngài chỉ cần chúng ta có một tâm hồn yêu mến và biết phó thác khi cầu nguyện là đủ rồi.

Lời cầu nguyện không chân thành là lời nịnh hót có tính nhạo báng Thiên Chúa toàn năng.

Lý do tại sao thì ai cũng biết rồi, nhất là những người thích khoe khoang bộ dạng bên ngoài khi dâng lễ cầu nguyện...

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)


--------

http://www.vietcatholic.net

https://www.facebook.com/jmtaiby

http://www.nhantai.info
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Đức Giáo Hoàng Leo XIV đóng Cửa Thánh của Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, kết thúc Năm Thánh Hy Vọng
Vũ Văn An
13:02 06/01/2026

Đức Giáo Hoàng Leo XIV đóng Cửa Thánh của Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, kết thúc Năm Thánh Hy Vọng


Theo Victoria Cardiel, trong bản tin của CNA ngày 6 tháng 1, 2026, Đức Giáo Hoàng Leo XIV, hôm thứ Ba, đã đóng Cửa Thánh của Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, kết thúc năm thánh thường niên — một thời gian ân sủng mời gọi các tín hữu Công Giáo hoán cải, hòa giải và hy vọng.

Đức Giáo Hoàng tiến về phía Cửa Thánh trong tiếng hát đối đáp “O clavis David [ôi chìa khóa Đa-vít]”. Đến ngưỡng cửa, ngài quỳ xuống trước cửa và ở lại vài phút để cầu nguyện thầm lặng. Sau đó, ngài đứng dậy và vào lúc 9 giờ 41 phút sáng, đóng sập hai cánh cửa đồng lớn – một cử chỉ đánh dấu rõ ràng sự kết thúc của mùa hồng ân.

“Với tấm lòng biết ơn, giờ đây chúng ta chuẩn bị đóng Cánh Cửa Thánh này, nơi đã được vô số tín hữu bước qua, tin chắc rằng Chúa Mục Tử Nhân Lành luôn mở rộng cửa lòng Người để đón nhận chúng ta bất cứ khi nào chúng ta cảm thấy mệt mỏi và bị áp bức,” Đức Giáo Hoàng Leo XIV nói trong bài diễn văn trước khi thực hiện cử chỉ kết thúc sự kiện giáo hội, thường được tổ chức 25 năm một lần để ban cho các tín hữu khả năng nhận được ơn toàn xá.

Với những lời này, Đức Giáo Hoàng Leo XIV nhấn mạnh rằng mặc dù đại lễ đã kết thúc, lòng thương xót của Chúa vẫn luôn rộng mở cho các tín hữu.

Trước khi đóng cửa, Đức Thánh Cha đã đọc bằng tiếng Latinh công thức được quy định trong nghi thức, theo một thông lệ được thiết lập vào năm 1975 và sau đó được Thánh Gioan Phaolô II đơn giản hóa trong Năm Thánh 2000.

Để phù hợp với nghi thức được đơn giản hóa, nghi thức công khai không bao gồm phần xây tường gạch và chỉ giới hạn ở việc đóng cửa đồng. Công việc xây dựng tường gạch sẽ được thực hiện sau đó, riêng tư, khoảng 10 ngày sau nghi thức công khai này.

Việc này sẽ được Văn phòng Phụng vụ của Đức Giáo Hoàng giám sát. Những người được gọi là “sampietrini” — nhân viên của Công trình Thánh Phêrô, bao gồm thợ mộc, thợ làm tủ và thợ điện thường đảm nhiệm việc bảo trì nhà thờ — sẽ xây bức tường gạch bên trong nhà thờ để niêm phong vĩnh viễn Cửa Thánh.

Trong nghi thức riêng tư này — không có máy quay phim hay nhà báo — viên nang kim loại truyền thống (“capsis”) sẽ được đặt vào trong tường. Hộp quà sẽ bao gồm văn kiện đóng cửa chính thức, những đồng tiền được đúc trong năm thánh, và chìa khóa của Cửa Thánh như một minh chứng vật chất và tượng trưng cho năm thánh mà, như Đức Giáo Hoàng đã lưu ý, đã kết thúc trên lịch nhưng không kết thúc trong đời sống thiêng liêng của Giáo hội.

Sau đó, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đọc lời cầu nguyện tạ ơn cho năm thánh thường niên, tuyên bố: “Cửa Thánh này đã đóng, nhưng cửa lòng thương xót của Chúa thì không.”

Công thức kết thúc bằng lời cầu khẩn rằng “kho báu” của ân sủng thiêng liêng sẽ luôn rộng mở “để khi kết thúc cuộc hành trình trần gian, chúng ta có thể tự tin gõ cửa nhà Chúa và hưởng trái của cây sự sống”.

Năm Thánh Hy Vọng được Đức Giáo Hoàng Phanxicô thiết lập vào ngày 24 tháng 12 năm 2024, nhưng sau khi ngài qua đời vào tháng 4 năm 2025, đã được vị kế nhiệm, Đức Giáo Hoàng Leo XIV, kết thúc – một tình huống chưa từng thấy kể từ năm 1700. Năm Thánh thường lệ gần nhất (được cử hành 25 năm một lần) diễn ra vào năm 2000.

Các năm Thánh cũng có thể được cử hành vào những thời điểm “đặc biệt”, chẳng hạn như Năm Thánh Lòng Thương Xót do Đức Phanxicô cử hành năm 2015 hoặc năm Thánh sẽ được triệu tập vào năm 2033 để kỷ niệm hai thiên niên kỷ về cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu.

Sau khi đóng Cửa Thánh, Đức Giáo Hoàng Leo XIV chủ trì Thánh lễ trọng kính Chúa Hiển Linh bên trong Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, kết thúc các hoạt động phụng vụ trong ngày.
 
Đức Giáo Hoàng Leo XIV: Vâng, các vị Chiêm tinh Gia vẫn còn hiện hữu ngày nay,
Vũ Văn An
13:41 06/01/2026

pope-leo-xiv-epiphany-closes-holy-door-jubilee2025. Antoine Mekary | ALETEIA


Kathleen N. Hattrup, trong bản tin ngày 06/01/26 của Aleteia, cho hay, trong Thánh Lễ Chúa Hiển Linh, Đức Leo XIV đã dạy rằng: Thật đáng ngạc nhiên khi Giêrusalem, một thành phố đã chứng kiến nhiều khởi đầu mới, lại gặp khó khăn... Phản ứng này cũng đặt ra thách thức cho chúng ta với tư cách là một Giáo Hội.

Sau nghi thức đóng cửa Thánh tại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, kết thúc Năm Thánh thường lệ năm 2025, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã cử hành Thánh lễ tại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô nhân dịp Lễ Hiển Linh.

Đức Thánh Cha đã ví hàng triệu người đã bước qua Cửa Thánh với các vị Chiêm tin gia đến Bêlem: "Vâng, các vị Chiêm tin gia vẫn còn hiện hữu ngày nay."

Hàng triệu người trong số họ đã bước qua ngưỡng cửa của Giáo Hội. Họ đã tìm thấy gì? Điều gì ẩn chứa trong trái tim, những câu hỏi và cảm xúc của họ?

Đức Leo suy gẫm về việc phản ứng "lo lắng" của Giêrusalem và của Herod là một thách thức đối với Giáo hội ngày nay.

Sau năm nay, liệu chúng ta có thể nhận ra rõ hơn một người hành hương nơi du khách, một người tìm kiếm nơi người lạ, một người láng giềng nơi người ngoại quốc và những người bạn đồng hành nơi những người khác biệt?

Theo thông lệ sau Tin Mừng Lễ Hiển Linh, một phó tế đã công bố các ngày lễ "di động" quan trọng trong năm phụng vụ Công Giáo, chẳng hạn như Thứ Tư Lễ Tro (18 tháng 2), Lễ Phục Sinh (5 tháng 4), Lễ Thăng Thiên (14 tháng 5), Lễ Ngũ Tuần (24 tháng 5), Lễ Chúa Ba Ngôi (4 tháng 6) và Chúa Nhật đầu tiên của Mùa Vọng (29 tháng 11).

Sau đây là bản dịch đầy đủ bài giảng của Đức Giáo Hoàng Leo:

~

Anh chị em thân mến,

Tin Mừng (xem Mt 2:1-12) đã mô tả cho chúng ta niềm vui lớn lao mà các nhà thông thái đã trải nghiệm khi họ lại nhìn thấy ngôi sao (xem câu 10), và đồng thời, Hê-rốt và tất cả mọi người ở Giêrusalem đã lo lắng như thế nào vì sự tìm kiếm của họ (xem câu 3). Thật vậy, mỗi khi Kinh Thánh nói về việc Thiên Chúa tỏ mình ra, Kinh Thánh không giấu giếm những phản ứng trái ngược, như niềm vui và sự bối rối, sự chống đối và sự vâng phục, nỗi sợ hãi và sự khao khát. Hôm nay chúng ta cử hành Lễ Hiển Linh của Chúa, nhận thức rằng trước sự hiện diện của Người, không có gì là không thay đổi. Điều này đánh dấu sự khởi đầu của niềm hy vọng, vì Thiên Chúa tỏ mình ra và không có gì là không thay đổi. Sự hiện diện của Người chấm dứt kiểu tự mãn u sầu khiến người ta không ngừng nói rằng: “Chẳng có gì mới dưới ánh mặt trời” (Huấn ca 1:9). Một điều mới mẻ bắt đầu, điều đó sẽ quyết định hiện tại và tương lai, như lời tiên tri đã loan báo: “Hãy trỗi dậy, hãy tỏa sáng; vì ánh sáng của ngươi đã đến, và vinh quang của Chúa đã chiếu rọi trên ngươi” (I-sai-a 60:1).

Thật đáng ngạc nhiên khi Giêrusalem, một thành phố đã chứng kiến nhiều sự khởi đầu mới, lại đang gặp khó khăn. Bên trong thành phố, những người nghiên cứu Kinh Thánh và nghĩ rằng họ có tất cả các câu trả lời dường như đã đánh mất khả năng đặt câu hỏi và nuôi dưỡng lòng khao khát. Thật vậy, thành phố sợ hãi những người, được thúc đẩy bởi hy vọng, đến từ phương xa; thành phố dường như bị đe dọa một cách đáng sợ bởi những điều lẽ ra phải mang lại niềm vui lớn lao. Phản ứng này cũng đặt ra thách thức cho chúng ta với tư cách là một Giáo hội.

Cánh cửa Thánh của Vương cung thánh đường này, hôm nay là cánh cửa cuối cùng được đóng lại, đã chứng kiến dòng người vô số, những người hành hương của hy vọng, hành trình hướng về Giêrusalem mới, thành phố có những cánh cửa luôn rộng mở (xem Khải Huyền 21:25).

Những người nam nữ này là ai, và điều gì đã thúc đẩy họ? Vào cuối năm Thánh này, sự tìm kiếm tâm linh của những người đương thời, phong phú hơn nhiều so với những gì chúng ta có thể hiểu, mời gọi chúng ta suy gẫm nghiêm túc. Hàng triệu người đã bước qua ngưỡng cửa của Giáo hội. Họ đã tìm thấy gì? Điều gì ở trong trái tim họ, những câu hỏi của họ, những cảm xúc của họ? Vâng, các nhà thông thái vẫn còn hiện hữu ngày nay. Họ là những người cảm nhận được nhu cầu phải ra đi và tìm kiếm, chấp nhận những rủi ro gắn liền với hành trình của mình, đặc biệt là trong một thế giới đầy biến động như thế giới của chúng ta, một thế giới có thể khó chịu và nguy hiểm theo nhiều cách.

Người xưa đã nói về homo viator (con người du hành), và quả thực toàn bộ cuộc sống của chúng ta là một cuộc hành trình. Tin Mừng thách thức Giáo hội không nên sợ hãi hiện tượng này, mà hãy trân trọng nó và hướng nó về Thiên Chúa, Đấng nâng đỡ chúng ta. Người là một Thiên Chúa có thể làm chúng ta bất an bởi vì Người không ở yên trong tay chúng ta như những thần tượng bằng bạc và vàng; Thay vào đó, Người sống động và ban sự sống, giống như Hài nhi mà Đức Mẹ Maria đã ôm trong vòng tay và được các nhà thông thái tôn thờ. Những nơi thánh như nhà thờ chính tòa, vương cung thánh đường và đền thờ, những nơi đã trở thành điểm đến hành hương trong Năm Thánh, phải lan tỏa hương thơm của sự sống, nhận thức không thể nào quên rằng một thế giới khác đã bắt đầu.

Chúng ta hãy tự hỏi: Có sự sống trong Giáo hội của chúng ta không? Có chỗ cho điều gì mới mẻ được sinh ra không? Chúng ta có yêu mến và loan truyền một Thiên Chúa, Đấng dẫn dắt chúng ta trên một cuộc hành trình không?

Trong bài đọc Tin Mừng, Hê-rốt lo sợ cho ngai vàng của mình và bồn chồn về những điều mà ông cảm thấy nằm ngoài tầm kiểm soát. Ông cố gắng lợi dụng ước muốn của các nhà thông thái bằng cách thao túng cuộc tìm kiếm của họ. Ông sẵn sàng nói dối, ông sẵn sàng làm bất cứ điều gì. Nỗi sợ hãi quả thật làm chúng ta mù quáng.

Ngược lại, niềm vui của Tin Mừng giải phóng chúng ta. Nó khiến chúng ta thận trọng, đúng vậy, nhưng cũng táo bạo, chú ý và sáng tạo; nó mời gọi chúng ta lên những nẻo đường khác với những nẻo đường chúng ta đã từng đi qua.

Các nhà thông thái mang đến Giêrusalem một câu hỏi đơn giản nhưng thiết yếu: “Đấng vừa sinh ra ở đâu?” (Mt 2:2). Điều quan trọng biết bao khi những người bước qua cánh cửa Giáo hội tri nhận ra rằng ở đó, Đấng Mê-xi-a vừa mới sinh ra, rằng một cộng đồng quy tụ lại, nơi niềm hy vọng nảy nở, và rằng một câu chuyện về sự sống đang được hé mở! Năm Thánh nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta có thể bắt đầu lại, quả thật, rằng chúng ta vẫn đang ở giai đoạn khởi đầu và Chúa muốn sự hiện diện của Người lớn mạnh giữa chúng ta như là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Vâng, Thiên Chúa thách thức trật tự hiện hữu, vì Người có những kế hoạch truyền cảm hứng cho các tiên tri của Người ngay cả ngày nay. Thiên Chúa quyết tâm giải cứu chúng ta khỏi cả những hình thức nô lệ cũ và mới. Người bao gồm cả người trẻ và người già, người nghèo và người giàu, đàn ông và phụ nữ, thánh nhân và tội nhân trong các công việc thương xót của Người, và trong những kỳ công của sự công chính của Người. Mặc dù Chúa làm điều đó một cách lặng lẽ, nhưng Người đã khiến Vương quốc của Người nảy mầm khắp mọi nơi trên thế giới.

Chúng ta đã được ban cho biết bao nhiêu sự mặc khải và biết bao nhiêu sự mặc khải nữa có thể được ban cho chúng ta! Tuy nhiên, chúng phải dẫn chúng ta tránh xa những ý định của Hê-rốt, khỏi những nỗi sợ hãi luôn sẵn sàng biến thành sự hung hãn. “Từ thời Gioan Tẩy giả cho đến nay, Nước Trời đã bị bạo lực, và kẻ bạo lực chiếm lấy nó bằng vũ lực” (Mt 11:12). Lời nói mầu nhiệm này của Chúa Giêsu, được ghi lại trong Tin Mừng Mát-thêu, không thể không khiến chúng ta suy nghĩ về nhiều cuộc xung đột mà con người dùng để chống lại và thậm chí làm tổn hại những điều mới mẻ mà Thiên Chúa dành cho mỗi người. Yêu thương và tìm kiếm hòa bình có nghĩa là bảo vệ những gì thánh thiện và, do đó, những gì mới được sinh ra như một đứa trẻ nhỏ bé, dễ bị tổn thương và mong manh.

Xung quanh chúng ta, một nền kinh tế méo mó đang cố gắng kiếm lợi từ mọi thứ. Chúng ta thấy thị trường có thể biến khát vọng tìm kiếm, du lịch và bắt đầu lại của con người thành một hoạt động kinh doanh đơn thuần. Chúng ta hãy tự hỏi: Năm Thánh đã dạy chúng ta tránh xa kiểu hiệu năng này, kiểu hiệu năng biến mọi thứ thành sản phẩm và con người thành người tiêu dùng chưa? Sau năm nay, liệu chúng ta có thể nhận ra rõ hơn một người hành hương nơi du khách, một người tìm kiếm nơi người lạ, một người láng giềng nơi người ngoại quốc, và những người bạn đồng hành nơi những người khác biệt?

Cách Chúa Giêsu gặp gỡ và cho phép mọi người đến gần Người dạy chúng ta trân trọng những bí mật trong lòng người, điều mà chỉ Người mới có thể đọc được. Cùng với Người, chúng ta học cách đón nhận những dấu hiệu của thời đại (xem Công đồng Vatican II, Hiến chương Mục vụ về Giáo hội trong Thế giới Hiện đại, Gaudium et Spes, 4). Không ai có thể bán điều này cho chúng ta. Đứa trẻ mà các nhà thông thái tôn thờ là một Ân sủng vô giá và vô cùng lớn lao. Đó là sự hiển linh của một hồng phúc. Nó không diễn ra ở một nơi danh giá, mà ở một nơi khiêm nhường. “Hỡi Bê-lem, trong xứ Giu-đa, ngươi chẳng phải là nhỏ nhất trong các thành Giu-đa sao?” (Mt 2:6). Biết bao thành phố, biết bao cộng đồng cần được nghe câu nói: “Ngươi chẳng phải là nhỏ nhất sao”? Vâng, Chúa vẫn làm chúng ta ngạc nhiên! Người tỏ mình ra và để cho mọi người tìm thấy mình. Đường lối của Người không phải là đường lối của chúng ta, và những kẻ bạo lực không thể kiểm soát được chúng, cũng như các thế lực trên thế gian không thể ngăn cản chúng. Đó là niềm vui lớn lao của các vị Chiêm tinh gia, những người đã bỏ lại cung điện và đền thờ để lên đường đến Bêlem; chỉ đến lúc đó họ mới nhìn thấy ngôi sao một lần nữa!

Vì vậy, anh chị em thân yêu, thật tuyệt vời khi trở thành những người hành hương của hy vọng. Thật tuyệt vời khi chúng ta tiếp tục cùng nhau hành trình! Lòng trung tín của Chúa vẫn luôn làm chúng ta kinh ngạc. Nếu chúng ta không biến nhà thờ của mình thành những tượng đài, nếu cộng đồng của chúng ta là những mái ấm, nếu chúng ta đoàn kết và chống lại sự nịnh hót và cám dỗ của những kẻ nắm quyền, thì chúng ta sẽ là thế hệ của một bình minh mới.

Đức Mẹ Maria, Ngôi Sao Mai, sẽ luôn dẫn đường cho chúng ta! Trong Con của Mẹ, chúng ta sẽ chiêm nghiệm và phụng sự một nhân loại phi thường, được biến đổi không phải bởi sự ảo tưởng của những kẻ toàn năng, mà bởi Thiên Chúa, Đấng đã nhập thể vì tình yêu.
 
Tin A.P.: Tòa Thánh Vatican tuyên bố Năm Thánh thành công với 33 triệu người hành hương
Vũ Văn An
15:34 06/01/2026

Người dân ngồi trên đài phun nước sau lễ khánh thành thiết kế mới của Piazza Pia, một quảng trường dành cho người đi bộ ở cuối đại lộ Via della Conciliazione, đối diện với Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, thứ Năm, ngày 26 tháng 12 năm 2024. (Ảnh: Mauro


Nicole Winfield của Associated Press, ngày 6 tháng 1 năm 2026, tường trình rằng: Hôm thứ Hai, Vatican đã đưa ra báo cáo cuối cùng về Năm Thánh 2025, cho biết hơn 33 triệu người hành hương đã tham gia và tranh chấp duy nhất với thành phố Rome liên quan đến kiểu dáng của các đài phun nước được xây dựng cho dự án công trình công cộng chính của biến cố.

Đức Giáo Hoàng Leo XIV vào thứ Ba sẽ chính thức kết thúc Năm Thánh và đóng Cửa Thánh của Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, khép lại một Năm Thánh hiếm hoi được khai mạc bởi một vị giáo hoàng và bế mạc bởi một vị giáo hoàng khác.

Đối với Vatican, Năm Thánh là một truyền thống lâu đời, trong đó các tín hữu hành hương đến Rome cứ 25 năm một lần để viếng mộ Thánh Phêrô và Thánh Phaolô và nhận ơn xá tội.

Đối với Rome, đây là cơ hội để tận dụng khoảng 4 tỷ euro (4.3 tỷ đô la) tiền công quỹ để thực hiện các dự án bị trì hoãn từ lâu nhằm đưa thành phố thoát khỏi tình trạng bị bỏ bê nhiều năm và đạt đến tiêu chuẩn hiện đại của châu Âu.

Số lượng người hành hương tăng lên sau khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô qua đời.

Vatican cho biết đã có 33,475,369 người hành hương tham gia, trong đó Ý, Mỹ và Tây Ban Nha là những quốc tịch có số lượng người tham gia nhiều nhất.

Tuy nhiên, người tổ chức Năm Thánh của Vatican, Tổng Giám mục Rino Fisichella, thừa nhận con số này chỉ là ước tính và có thể bao gồm việc tính trùng lặp. Không có số liệu phân tích chi tiết giữa số lượng người hành hương trong Năm Thánh và tổng số khách du lịch đến Rome. Tòa Thánh Vatican đã đưa ra con số này bằng cách kết hợp số người đăng ký chính thức tham dự các sự kiện Năm Thánh, số người tình nguyện đếm đám đông tại các nhà thờ lớn ở khu vực Rome và số liệu từ camera giám sát tại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, ghi nhận khoảng 25,000 đến 30,000 người mỗi ngày đi qua Cửa Thánh.

Giả sử con số đó được duy trì mỗi ngày trong năm qua, thì khoảng 10 triệu người hành hương đã đi qua Cửa Thánh. Các quan chức cho biết họ không bao giờ dự đoán con số sẽ cao hơn, do sức chứa có hạn và vì những người hành hương cũng sẽ đến thăm Cửa Thánh tại các nhà thờ lớn khác ở Rome.

Con số chính thức đã vượt quá 31.7 triệu người được dự báo ban đầu trong một nghiên cứu do Đại học Roma Tre thực hiện.

Tòa Thánh Vatican cho biết họ đã ghi nhận sự gia tăng ổn định về số người tham gia sau khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô qua đời vào tháng Tư và việc bầu chọn Đức Giáo Hoàng Leo, một sự chuyển giao khiến Năm Thánh này trở thành Năm Thánh thứ hai trong lịch sử được một vị Giáo hoàng khai mạc và một vị Giáo hoàng khác bế mạc. Năm 1700, Đức Giáo Hoàng Innocent XII đã khai mạc Năm Thánh và Đức Giáo Hoàng Clement XI đã bế mạc sau khi Đức Innocent qua đời.

Tranh cãi về đài phun nước

Thị trưởng Rome, Roberto Gualtieri, cho biết 110 trong số 117 dự án công trình công cộng ban đầu liên quan đến Năm Thánh đã được hoàn thành, bao gồm cả dự án táo bạo nhất: một quảng trường dành cho người đi bộ ở cuối đại lộ Via della Conciliazione, đối diện với Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, đòi hỏi phải chuyển hướng giao thông xuống một đường hầm ngầm.

Thiết kế của Piazza Pia, tên gọi của quảng trường, cũng là điểm bất đồng chính giữa Fisichella và Gualtieri về hai đài phun nước hình tròn nằm dọc theo đại lộ Conciliazione hướng về phía vương cung thánh đường.

Gualtieri thích các đài phun nước. Fisichella thì không, nhưng phải gác lại sở thích của mình vì quảng trường nằm trên lãnh thổ Ý.

“Đây có lẽ là điểm duy nhất mà chúng tôi phải nói, vừa cười vừa nói, rằng chúng tôi không hoàn toàn đồng ý,” ĐTGM Fisichella nói. “Ông ấy thích hai đài phun nước đó, tôi thích những đài khác, nhưng tôi phải nhượng bộ.”

ĐTGM Fisichella nói rằng ngài không nghĩ những đài phun nước bằng đá hiện đại phù hợp với một quảng trường hướng về vẻ tráng lệ kiểu Baroque của Vương cung thánh đường Thánh Phêrô và dọc theo kiến trúc thời phát xít của Via della Conciliazione, con đường được tạo ra bằng cách san bằng một khu phố cho năm Thánh 1950.

Một năm sau, ĐTGM Fisichella đã quen với chúng nhưng vẫn không thích chúng.

“Tôi luôn nghĩ chúng trông giống như bồn ngâm chân,” ngài nói.

Lịch sử lâu dài của các Năm Thánh và các công trình công cộng

Mối quan hệ của Rome với các Năm Thánh bắt nguồn từ năm 1300, khi Đức Giáo Hoàng Boniface VIII khai mạc Năm Thánh đầu tiên, điều mà các nhà sử học cho rằng đánh dấu sự xác định dứt khoát Rome là trung tâm của Kitô giáo.

Ngay cả khi đó, số lượng người hành hương đã rất đáng kể đến nỗi Dante đã nhắc đến họ trong tác phẩm “Địa ngục” của mình. Từ lâu, các dự án công trình công cộng quy mô lớn đã đi kèm với các Năm Thánh, bao gồm việc xây dựng Nhà nguyện Sistine, được Đức Giáo Hoàng Sixtus IV ủy nhiệm cho Năm Thánh 1475, và nhà để xe lớn của Vatican, cho Năm Thánh 2000 dưới thời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

Đức Leo đã tuyên bố rằng Năm Thánh tiếp theo sẽ diễn ra vào năm 2033, để kỷ niệm điều mà các tín hữu Kitô giáo tin là sự chết và phục sinh của Chúa Kitô vào năm 33 Công nguyên.
 
Trong giờ đọc kinh Truyền Tin Lễ Hiển Linh, Đức Giáo Hoàng chia sẻ: Nguyện xin cho ngành công nghiệp chiến tranh được thay thế bằng công nghệ kiến tạo hòa bình
Thanh Quảng sdb
16:29 06/01/2026
Trong giờ đọc kinh “Truyền Tin” Lễ Hiển Linh, Đức Giáo Hoàng chia sẻ: 'Nguyện xin cho ngành công nghiệp chiến tranh được thay thế bằng công nghệ kiến tạo hòa bình'

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV trong giờ đọc kinh Truyền Tin trong ngày Lễ trọng Chúa Hiển Linh, ĐTC suy niệm về các vị Đạo sĩ tới tôn thờ Hài Nhi Giêsu, và mời gọi chúng ta trở thành 'những người kiến tạo niềm hy vọng', 'thay cho những bất bình đẳng, bằng sự công bằng', và thay vì 'ngành công nghiệp chiến tranh bằng công nghệ kiến tạo hòa bình'.

(Tin Vatican - Deborah Castellano Lubov)

"Trong những món quà của các nhà đạo sĩ, chúng ta thấy điều mà mỗi người chúng ta có thể chia sẻ, điều mà chúng ta không thể giữ cho riêng mình nữa mà phải trao ban cho người khác, để sự hiện diện của Chúa Giêsu có thể lớn lên giữa chúng ta."

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã bày tỏ điều này trong bài suy niệm khi đọc Kinh Truyền Tin hôm nay, ngày 6 tháng 1 năm 2026, nhân Lễ trọng Chúa Hiển Linh. Sau Thánh lễ tượng Chúa Giêsu sáng nay được kiệu ra Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, Đức Giáo Hoàng Lêô đã đọc kinh Truyền Tin cùng các tín hữu tại Quảng trường Thánh Phêrô.

Đức Giáo Hoàng Lêô nói với các tín hữu rằng, cuộc hành trình, sự ra đi và việc dâng lễ vật quý giá cho Chúa Giêsu Hài Đồng của Ba Đạo sĩ là lời nhắc nhở mạnh mẽ rằng chúng ta phải dâng hiến tất cả bản thân và tất cả những gì mình có cho Chúa Giêsu, "kho báu vô giá của chúng ta".

Việc quỳ gối trước Chúa Hài Đồng ở Bêlem cũng có ý nghĩa gì đối với chúng ta?

"Quỳ gối như các vị Đạo sĩ trước Chúa Hài Nhi tại Bêlem cũng có nghĩa là đối với chúng ta," Đức Giáo Hoàng Lêô bày tỏ, "tuyên xưng đã tìm thấy nhân tính đích thực, nơi vinh quang của Thiên Chúa được tỏa sáng."

"Trong Chúa Giêsu," ngài nhắc nhở, "sự sống đích thực xuất hiện, con người sống động, Đấng không hiện hữu cho riêng mình nhưng bày tỏ và hiệp thông, Đấng dạy chúng ta rằng: 'ở dưới đất cũng như ở trên trời'" (Mt 6:10).

Trong bối cảnh này, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh, "sự sống thiêng liêng nằm trong tầm tay chúng ta" và "nó được biểu lộ để chúng ta có thể được hòa mình vào sự tự do năng động của nó, điều làm tan vỡ xiềng xích của nỗi sợ hãi và cho phép chúng ta gặp gỡ trong bình an."

Nhấn mạnh rằng điều này vừa là một khả năng vừa là một lời mời gọi, vì "sự hiệp thông không thể bị hạn chế," Đức Giáo Hoàng nói: "Chúng ta còn mong muốn điều gì hơn thế nữa?"

Sự mạo hiểm và việc dâng hiến của các vị Đạo sĩ

Suy ngẫm về đoạn Tin Mừng của Thánh Matthêu, và những gì chúng ta thấy trong các cảnh Giáng Sinh, Đức Giáo Hoàng nhắc lại cách các vị Đạo sĩ dâng lên Chúa Giêsu Hài Đồng nhiều món quà quý giá, đó là vàng, nhũ hương và mộc dược.

"Chúng có vẻ không hữu ích cho một em bé, nhưng chúng thể hiện một ước muốn cho chúng ta nhiều điều để suy ngẫm khi chúng ta tiến tới cuối năm kết thúc Năm thánh," đó là, "món quà lớn nhất là cho đi tất cả."

Từ một góc nhìn khác, nhưng để minh họa cùng một điểm, Đức Giáo Hoàng Lêô đã nhắc đến "người góa phụ nghèo khó, được Chúa Giêsu khen ngợi, người đã dâng vào kho bạc của Đền thờ hai đồng xu cuối cùng của mình, nhưng là tất cả những gì bà có."

Kho báu vô giá của chúng ta

Đức Giáo Hoàng nêu ra rằng chúng ta không biết gì về tài sản của các vị Đạo sĩ, những người đến từ phương Đông, "nhưng sự ra đi của họ, sự mạo hiểm của họ và chính những món quà của họ cho thấy rằng mọi thứ, thực sự mọi thứ mà chúng ta có và sở hữu cần phải được dâng hiến cho Chúa Giêsu, Đấng là kho báu vô giá của chúng ta."

Sau đó, Đức Giáo Hoàng chuyển sang Năm Thánh Hy Vọng, vừa kết thúc hôm nay với việc đóng cửa Thánh của Vương cung thánh đường Thánh Phêrô.

"Về phần mình," ngài nói, "Năm Thánh đã nhắc nhở chúng ta về công lý được xây dựng trên sự bố thí, về những quy định ban đầu của Năm Thánh, bao gồm lời kêu gọi hội nhập cuộc sống hòa bình, phân phối lại đất đai và tài nguyên, và khôi phục "những gì mình có" và "những gì mình là" cho những kế hoạch của Thiên Chúa, những kế hoạch vĩ đại hơn của chúng ta."

Niềm hy vọng phải dựa trên thực tế

Với suy nghĩ đó, Đức Giáo Hoàng Lêô nhấn mạnh: "Niềm hy vọng mà chúng ta loan báo phải dựa trên thực tế, vì Chúa Giêsu đã từ trời xuống để tạo nên một câu chuyện mới ở trần gian này."

Vì vậy, ngài bày tỏ rằng khi chúng ta nhớ lại những món quà của các nhà thông thái, chúng ta cũng nên xem xét những gì mình có thể chia sẻ với người khác, để giúp tôn vinh sự hiện diện của Chúa Kitô, hầu cho Nước Chúa được lớn mạnh, lời Chúa được ứng nghiệm trong chúng ta, và người khác, biến kẻ thù trở thành anh chị em.

"Thay vì bất bình đẳng, xin cho có sự công bằng, và thay thế ngành công nghiệp chiến tranh bằng công nghệ kiến tạo hòa bình," Đức Giáo Hoàng Lêô nói.

"Là những người dệt nên niềm hy vọng," ngài kết luận, "chúng ta hãy cùng nhau hướng về tương lai trên một nẻo đường khác."

Kỷ niệm Ngày Thiếu nhi Truyền giáo

Sau khi ban phép lành, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã chào đón tất cả những người tụ họp tại Quảng trường Thánh Phêrô và gửi đến họ "những lời chúc tốt đẹp nhất cho năm mới trong ánh sáng của Chúa Kitô Phục Sinh."

Ngài cũng nhắc lại Lễ Hiển Linh cũng là Ngày Thiếu Nhi Truyền Giáo. Ngài gửi lời chào và cảm ơn các em nhỏ và thanh thiếu niên trên khắp thế giới, những người đã luôn cầu nguyện cho các nhà truyền giáo và hết lòng giúp đỡ những bạn bè kém may mắn hơn.

Cuối cùng, Đức Giáo Hoàng cũng nhắn nhủ đến các cộng đồng Giáo hội ở phương Đông, những người sẽ cử hành Lễ Giáng Sinh theo lịch Julian vào ngày 7 tháng 1, cầu xin Chúa Giêsu ban cho họ và gia đình họ sự thanh thản và bình an.
 
Mùa xuân đến muộn: Vì sao hứa hẹn của Đại Năm Thánh vẫn chưa được nên trọn
Vũ Văn An
17:54 06/01/2026

Quảng trường Thánh Phêrô ở Rome phủ đầy tuyết vào ngày 4 tháng 2 năm 2012. (ảnh: Fabio Pagani / Shutterstock)


Cha Raymond J. de Souza trong bản tin ngày 5 tháng 1 năm 2026 của National Catholic Register, cho hay: Vào ngày đầu tiên của năm mới này, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã trích dẫn lời của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II lúc nói “vào cuối Đại Năm Thánh năm 2000, bằng những lời lẽ cộng hưởng với suy tư của chúng ta ngày hôm nay.”

“‘Biết bao ơn lành,’ [Đức Gioan Phaolô] nói, ‘biết bao dịp đặc biệt mà Đại Năm Thánh đã ban cho các tín hữu!’”.

“[Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II] kết luận: ‘Chúa Kitô đòi hỏi các tín hữu, những người mà Người đã ban cho niềm vui được gặp gỡ Người, phải có sự can đảm để một lần nữa lên đường rao giảng Tin Mừng của Người, xưa cũ và luôn luôn mới mẻ. Người sai họ đi để làm sống động lịch sử và văn hóa nhân loại bằng sứ điệp cứu độ của Người.’”

Thực vậy, hai mươi lăm năm trước, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã bế mạc Đại Năm Thánh 2000 vào ngày lễ trọng kính Lễ Hiển Linh, ngày 6 tháng 1 năm 2001. Ngài chân thành cảm thấy rằng “lịch sử và văn hóa nhân loại” đã chín muồi cho một cuộc gặp gỡ mới với “sứ điệp cứu độ của Chúa Kitô”.

Một thế kỷ là một thời gian dài, huống chi là một thiên niên kỷ, vì vậy những hạt giống của Đại Năm Thánh vẫn có thể đơm hoa kết trái. Nhưng cuối Năm Thánh 2025 là thời điểm để quay trở lại khởi đầu của thế kỷ, bởi vì 25 năm qua đã chứng kiến Giáo hội bị phân tâm khỏi những hy vọng lớn lao của năm 2000.

Khi đóng Cửa Thánh tại Nhà thờ Thánh Phêrô, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã ban hành một bức thư tông đồ dài, Novo Millennio Ineunte (“Vào đầu thiên niên kỷ mới”), ngay trong ngày hôm đó.

Trong một triều giáo hoàng với nhiều văn kiện, Novo Millennio Ineunte mang cả âm hưởng của một lời chia tay và một hiến chương. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã hướng mắt về Đại Năm Thánh ngay từ đầu triều đại của mình, đề cập đến nó ở đầu thông điệp đầu tiên của ngài vào năm 1979, và sau đó tuyên bố rằng việc chuẩn bị và cử hành Năm Thánh là “khoa chú giải” của toàn bộ triều đại giáo hoàng.

Việc cử hành Năm 2000 đã thành công rực rỡ. Đức Thánh Cha đã ở lại Rome để đón tiếp hàng chục triệu người hành hương, bao gồm một đám đông khổng lồ tham dự Ngày Giới trẻ Thế giới và Đại hội Thánh Thể Quốc tế.

Ngài đã dành thời gian cho hai chuyến đi lịch sử — một đến trung tâm của lịch sử cứu độ, chuyến hành hương vĩ đại của ngài đến Đất Thánh, và một đến trung tâm huyền nhiệm của thế kỷ 20, Fatima. Ngài đã phong thánh cho Nữ tu Faustina Kowalska là vị thánh đầu tiên của thiên niên kỷ thứ ba, đặt dấu ấn Lòng Thương Xót Chúa lên năm thánh và tuyên bố việc cử hành phụng vụ mới là “Chúa nhật Lòng Thương Xót Chúa”. Ngài đã phong thánh cho các nhóm tử đạo từ Mexico và Trung Quốc, cũng như hai người phụ nữ vĩ đại đã thúc đẩy bình đẳng chủng tộc, các Nữ tu Katharine Drexel và Josephine Bakhita.

Việc tưởng niệm các vị tử đạo mới của thế kỷ 20 — một số người trong số đó được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II biết đến — và lời cầu xin tha thứ cho những tội lỗi lịch sử của người Công Giáo là những hành động mạnh mẽ nhằm tôn vinh ký ức và hàn gắn nó. Nhiều sự kiện mang tính biểu tượng đó đã vang vọng trong Đại lễ 2025 — ví dụ như việc phong thánh chung cho Pier Giorgio Frassati và Carlo Acutis, và lễ tưởng niệm các vị tử đạo mới của thế kỷ 21 vẫn còn non trẻ.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói trong nhiều thập nnie6n về thế kỷ này như một thời đại của ân sủng mới, của Tân Phúc Âm Hóa. Ngài kết luận bài phát biểu năm 1995 trước Liên Hợp Quốc tại New York như một “chứng nhân của niềm hy vọng”, bày tỏ niềm tin rằng “chúng ta có thể xây dựng trong thế kỷ tới và thiên niên kỷ tới một nền văn minh xứng đáng với con người, một nền văn hóa tự do đích thực… [khi] chúng ta sẽ thấy rằng những giọt nước mắt của thế kỷ này đã chuẩn bị nền tảng cho một mùa xuân mới của tinh thần con người”.

Vì vậy, khi Đại lễ kết thúc, người ta kỳ vọng rằng nó sẽ giải phóng “những năng lực mới” trong Giáo hội, khi Novo Millennio Ineunte vang vọng lời kêu gọi của Chúa Kitô “ra chỗ nước sâu”. Giáo hội dường như đã sẵn sàng cho một cuộc truyền bá Tin Mừng vĩ đại đến một thế giới mà, sau một thế kỷ ảm đạm, đã sẵn sàng lắng nghe Tin Mừng một lần nữa.

Rồi mọi thứ lại đi chệch hướng, hoặc thụt lùi.

Nếu Đại Năm Thánh cho thế giới thấy bộ mặt vui tươi, mời gọi của đức tin tôn giáo, thì chín tháng sau, lòng thù hận do tôn giáo gây ra đã dẫn đến bạo lực chết người vào ngày 11/9. Thiên niên kỷ thứ ba mở ra không phải bằng một mùa xuân của tinh thần, mà bằng chủ nghĩa khủng bố tôn giáo và phản ứng của một “chủ nghĩa vô thần mới” — một sự bác bỏ Thiên Chúa và chế giễu những người tin Chúa đang thịnh hành trong giới trí thức, phần lớn được thúc đẩy bởi những bệnh lý của chủ nghĩa cực đoan tôn giáo. Chỉ trong những năm gần đây, chủ nghĩa vô thần mới mới lỗi thời.

Việc thách thức chủ nghĩa cực đoan (Hồi giáo) và bạo lực quan trọng đến mức bài phát biểu nổi tiếng nhất của Đức Giáo Hoàng Benedict XVI tại Regensburg đã đề cập đến chủ đề đó, trong bối cảnh tính hợp lý của niềm tin tôn giáo, là một dấu hiệu cho thấy bài phát biểu đó đề cập đến vấn đề gì, trong bối cảnh tính hợp lý của niềm tin tôn giáo. Không chỉ các sự kiện bên ngoài, mà cả những diễn biến nội bộ cũng đã làm suy yếu phần lớn năng lực truyền giáo của Giáo hội — lạm dụng tình dục, phụng vụ và tính hiệp thông. Liệu nay, 25 năm sau, lòng nhiệt huyết của Novo Millennio Ineunte có thể được khơi dậy trở lại khi một đại Năm Thánh khác sắp kết thúc?

Trong tông thư của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, không hề có gợi ý nào về nạn lạm dụng tình dục của giáo sĩ. Tuy nhiên, trong suốt Đại Thánh, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã làm việc với Đức Hồng Y Joseph Ratzinger để giải quyết vấn đề này.

Vào tháng 4 năm 2001, ngài đã ban hành luật mới giao các vụ lạm dụng tình dục cho Bộ Giáo lý Đức tin, vốn là tòa án truyền thống xử lý các tội ác giáo luật nghiêm trọng nhất. Các quy trình tố tụng mới đã được ban hành để tập trung hóa và chuẩn hóa các vụ việc. Tất cả các cáo buộc đáng tin cậy đều phải được báo cáo lên Rome để được hướng dẫn về cách tiến hành. Các biện pháp che đậy tại địa phương không còn được cho phép nữa. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II có thể đã nghĩ rằng các cải cách cần thiết của Tòa Thánh đã được thực hiện vững chắc.

Không hẳn vậy.

Chính một năm sau ngày đóng Cửa Thánh, làn sóng đầu tiên của cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục hoàn cầu đã ập xuống Giáo hội hoàn vũ. Ngày 6 tháng 1 năm 2002, tờ Boston Globe đăng bài báo đầu tiên trong số hàng trăm bài báo vạch trần tội ác và hành vi che đậy. Năng lực Tin mừng của Novo Millennio Ineunte đã bị nhấn chìm trong cơn lũ.

Hãy xem xét một ví dụ: Vào tháng 1 năm 2001, Đức cha Timothy Dolan là hiệu trưởng của Trường Cao đẳng Bắc Mỹ ở Rome và đã có mặt trong lễ bế mạc long trọng của Đại Năm Thánh. Tám tháng sau, ngài được phong chức Giám Mục Phụ Tá tại St. Louis, trong một buổi lễ dường như cho thấy sức mạnh và sức sống của hàng giáo phẩm Hoa Kỳ - hầu hết trong số họ dường như đều có mặt.

Sáu tháng sau, Giám mục Dolan dành thời gian để giải quyết các vụ lạm dụng tình dục trong lịch sử. Vài tháng sau đó, ngài được bổ nhiệm kế nhiệm Tổng Giám mục Rembert Weakland ở Milwaukee, người đã từ chức giữa những tiết lộ đáng hổ thẹn về các mối quan hệ đồng tính, các khoản tiền bịt miệng và những lời nói dối.

Khi Đức Hồng Y Dolan nghỉ hưu tháng trước tại New York, đó cũng là tháng ngài tuyên bố thành lập quỹ 300 triệu đô la để bồi thường cho các vụ lạm dụng tình dục; ngài đã bán trụ sở tổng giáo phận để gây quỹ một phần. Toàn bộ nhiệm kỳ giám mục của ngài, bắt đầu sau Đại Năm Thánh, đã sống dưới bóng đen của cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục.

Liệu có khả năng cuộc khủng hoảng này hiện nay, nếu không được giải quyết dứt điểm, thì ít nhất cũng không còn chiếm dụng thời gian, năng lực và nguồn lực mà người ta cho là dành cho việc truyền giáo cách đây một phần tư thế kỷ?

Việc giải quyết cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục đã bị cưỡng chế lên Giáo hội, dù đã quá muộn. Những sự xao nhãng khác đến như những hậu quả không lường trước được của những ưu tiên đã chọn.

Để hàn gắn rạn nứt với Hội Thánh Thánh Piô X, Đức Giáo Hoàng Benedict đã chọn một bước đi quyết liệt. Ngài cho phép các linh mục cử hành điều mà ngài gọi là “hình thức đặc biệt” của Thánh lễ một cách độc lập, hoặc thậm chí trái với ý muốn của các giám mục của họ. Ngài đã viết vào thời điểm đó (năm 2007) rằng điều đó sẽ có tác động khá hạn chế đến đời sống của Giáo hội. Ngài đã đúng về điều đó đối với toàn thể Giáo hội, nhưng ở một số nơi, nó đánh dấu một sự quay lưng mạnh mẽ vào bên trong, khác hướng (theo nghĩa đen) nhưng tương tự về cường độ với những tranh cãi về phụng vụ làm hao tổn năng lực của những năm 1970.

Phương tiện truyền thông kỹ thuật số không giúp ích gì trong vấn đề này. Xuất hiện một môi trường giáo sĩ mà ở đó việc dàn dựng các cuộc rước kiệu phụng vụ được thực hiện chính xác hơn cả thần học về các cuộc rước kiệu của Chúa Ba Ngôi. Đối với một số người, dường như con người được tạo ra cho Sách Lễ Rôma, chứ không phải Sách Lễ Rôma được tạo ra cho con người.

Có lẽ đó là điều mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã than thở khi ngài nhiều lần nói rằng một Giáo hội tự giam mình trong phòng thánh sẽ sớm trở nên ốm yếu. Tuy nhiên, dự án đồng nghị vĩ đại của ngài cũng trở nên hướng nội, trái ngược với sự nhấn mạnh ban đầu của ngài về việc xem xét lại tất cả các hoạt động của Giáo hội thông qua lăng kính truyền giáo. Giáo hội đã thoát khỏi phòng thánh nhưng lại thấy mình ở trong một phòng hội nghị.

Mặc dù tiến trình Thượng Hội đồng về tính đồng nghị đã mang lại những kết quả tốt đẹp luôn nảy sinh khi những người có cùng đức tin và mục đích quy tụ lại, nhưng quy mô và khối lượng khổng lồ của tiến trình đồng nghị đã làm phân tán năng lực khỏi việc rao giảng Lời Chúa. Đức Phanxicô đã khôn ngoan thiết lập Chúa nhật Lời Chúa (ngày 25 tháng 1 năm nay), nhưng các Thượng Hội đồng lại bị đè nặng bởi lời lẽ của con người.

Năm Thánh 2025, lần đầu tiên kể từ năm 1700, bao gồm cả sự kiện một Giáo hoàng qua đời và Mật nghị Hồng Y. Một vị Giáo hoàng mới, dù là ai đi nữa, cũng mang đến nguồn năng lực mới, như mọi năm Thánh khác.

Năm 2026, câu hỏi hậu Năm Thánh sẽ là liệu những năng lực đó có được khai thác hữu hiệu hơn so với 25 năm trước hay không.