Phụng Vụ - Mục Vụ
Ngày 31/10: Khiêm Tốn – Nữ Tu Têrêsa Phùng Thị Yến – Dòng Mến Thánh Giá
Giáo Hội Năm Châu
01:42 30/10/2026
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
Một ngày sa-bát kia, Đức Giê-su đến nhà một ông thủ lãnh nhóm Pha-ri-sêu để dùng bữa : họ cố dò xét Người.
Người nhận thấy khách dự tiệc cứ chọn cỗ nhất mà ngồi, nên nói với họ dụ ngôn này : “Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng được mời, và rồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia phải đến nói với anh rằng : ‘Xin ông nhường chỗ cho vị này.’ Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối. Trái lại, khi anh được mời, thì hãy vào ngồi chỗ cuối, để cho người đã mời anh phải đến nói : ‘Xin mời ông bạn lên trên cho.’ Thế là anh sẽ được vinh dự trước mặt mọi người đồng bàn. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.”
Đó là Lời Chúa
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Đức Giáo Hoàng Leo XIV thăm Argentina dưới cái bóng của Đức Giáo Hoàng Phanxicô
Vũ Văn An
15:19 30/10/2026
Chuyến thăm kéo dài bốn ngày của Đức Giáo Hoàng Leo XIV sẽ khơi gợi lại ký ức về vị tiền nhiệm người Argentina, trong bối cảnh số lượng tín hữu Công Giáo tại quốc gia này đang sụt giảm và công chúng có những phản ứng pha trộn về chuyến đi.

Camille Dalmas, trong mục Vatican Insight của I-Media, cho hay: Vào ngày 8 tháng 11 năm 2026, Đức Giáo Hoàng Leo XIV sẽ đặt chân đến Argentina, chưa đầy hai năm sau khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô – vị giáo hoàng đầu tiên đến từ quốc gia này cũng như từ châu Mỹ – qua đời. Chuyến thăm kéo dài bốn ngày của ngài chắc chắn sẽ gợi nhắc về vị cựu Tổng giám mục Buenos Aires (giai đoạn 1998–2013), người từng đóng vai trò quan trọng trong xã hội Argentina. Ngày nay, đất nước này vẫn đang bị chia rẽ sâu xa, trong khi Công Giáo tiếp tục trên đà suy giảm.
“Sự xuất hiện của Đức Giáo Hoàng Leo XIV mang đến niềm vui lớn, khơi dậy trong lòng nhiều người Argentina những ký ức và tình cảm dành cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô,” một thành viên trong ban tổ chức chuyến thăm chia sẻ khi đang có mặt tại Rome.
Đức Giáo Hoàng Phanxicô vẫn là một nhân vật quan trọng đối với cả Giáo Hội Công Giáo lẫn xã hội Argentina. Dù mức độ nổi tiếng đã giảm đáng kể, ngài vẫn nhận được cái nhìn thiện cảm từ đa số đồng bào Argentina. Năm 2013, tỷ lệ ủng hộ dành cho ngài từng vượt mốc 90%, nhưng đến năm 2025, một số cuộc thăm dò cho thấy con số này chỉ còn khoảng 50%.
Đối với Giám mục Alejandro Musolino, Giám Mục Phụ Tá giáo phận Córdoba, chuyến thăm này là dịp để “dành thời gian tri ân Đức Giáo Hoàng Phanxicô và cảm ơn những đóng góp của ngài”. Tại buổi giới thiệu về chuyến tông du sắp tới, vị giám mục cùng những người khác dự đoán rằng Đức Giáo Hoàng Leo XIV sẽ nhận được sự chào đón nồng nhiệt với đám đông khổng lồ tại Buenos Aires, Córdoba và Luján – ba thành phố mà ngài sẽ ghé thăm.
Một quốc gia chia rẽ về chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng
Tuy nhiên, sự hào hứng của công chúng không đồng nhất. Vào ngày 26 tháng 10, hai tuần trước khi chuyến tông du Nam Mỹ của Đức Giáo Hoàng bắt đầu, Đại học Buenos Aires đã công bố một cuộc khảo sát cho thấy 51% người Argentina coi chuyến thăm này là “không mấy quan trọng” hoặc “hoàn toàn không quan trọng”.
Chỉ 40% thanh niên trong độ tuổi từ 16 đến 29 cho rằng chuyến thăm này là quan trọng, mặc dù Đức Giáo Hoàng Phanxicô chính là vị giáo hoàng đã định hình nên trải nghiệm của họ về chức vị giáo hoàng. Tại khu vực đô thị Buenos Aires – nơi Đức Hồng Y Jorge Mario Bergoglio từng phục vụ với tư cách là tổng giám mục – con số này chỉ còn 36%.
Điều nghịch lý là kể từ khi Argentina mang đến cho thế giới vị giáo hoàng đầu tiên, quốc gia này lại chứng kiến sự sụt giảm đáng kể về số lượng người theo Công Giáo. Theo các cuộc khảo sát, vào năm 2008, người Công Giáo chiếm khoảng 76% dân số, nhưng đến năm 2026, con số này chỉ còn 58%. Trong khi đó, tỷ lệ người Argentina không theo tôn giáo nào đã tăng lên 22%, và các tín hữu Tin Lành hiện chiếm 17%.
Sự tương phản này càng trở nên rõ rệt hơn khi nhìn lại chuyến thăm Argentina gần nhất của một vị giáo hoàng – chuyến thăm của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II vào năm 1987. Khi đó, Công Giáo phổ biến hơn nhiều; một cuộc khảo sát vào giữa thập niên 1980 cho thấy khoảng 80% dân số theo Công Giáo.
Di sản của Giáo hoàng Phanxicô: Sự quan tâm đến người nghèo
Dù vậy, triều đại giáo hoàng của Đức Phanxicô – vốn được xã hội Argentina theo dõi sát sao – đã để lại dấu ấn sâu đậm tại quốc gia này.
Trong cùng cuộc khảo sát của Đại học Buenos Aires, những người tham gia đã xác định nghèo đói là vấn đề mà Giáo hoàng nên ưu tiên giải quyết trong chuyến thăm của nhài. Quan điểm này đặc biệt phổ biến ở giới trẻ (49%) và cư dân tại khu vực đô thị Buenos Aires (51%).
Vấn đề nghèo đói là trọng tâm trong triều đại của Đức Phanxicô. Ngài thường xuyên nhắc đến “sự ưu tiên dành cho người nghèo” và từng đưa ra tuyên bố nổi tiếng: “Tôi mong muốn một Giáo hội nghèo và vì người nghèo biết bao!”
Khi còn là Tổng giám mục Buenos Aires, ngài được biết đến với sự quan tâm đặc biệt dành cho những người túng thiếu, chú trọng đến các khu dân cư nghèo khổ (được gọi là villas miseria) và tích cực tham gia vào các vấn đề xã hội của đất nước.
Khía cạnh này trong di sản của ngài lại ít được thể hiện rõ trong lịch trình chuyến thăm của Đức Leo, vốn không bao gồm việc ghé thăm các khu ổ chuột. Tuy nhiên, thông qua chuyến thăm đến Pequeño Cottolengo Don Orione tại Claypole – một cơ sở Công Giáo chăm sóc người khuyết tật – Đức Giáo Hoàng sẽ gửi một thông điệp đến chính phủ của ông Javier Milei. Cơ sở này từng lên tiếng chỉ trích sự hỗ trợ không thỏa đáng từ chính phủ dành cho các dịch vụ hỗ trợ người khuyết tật.
Mong muốn về hòa bình quốc tế
Điều đáng lưu ý là cùng cuộc khảo sát đó cho thấy hòa bình quốc tế là ưu tiên cao thứ hai đối với người dân Argentina, được một phần năm số người tham gia khảo sát đề cập đến. Xét đến vị trí địa lý của Argentina – nơi tách biệt khỏi các cuộc xung đột lớn trên thế giới – thì điều này có vẻ đáng ngạc nhiên. Tuy nhiên, mối quan tâm này lại khá tương đồng với quan điểm của Leo XIV về một nền hòa bình “không vũ trang và hướng tới giải trừ vũ khí”.
Nó cũng có thể phản ánh ký ức vẫn còn in đậm về nỗi nhục nhã mà Argentina phải gánh chịu sau thất bại trước Vương quốc Anh trong cuộc chiến tranh Falkland năm 1982.
Chuyến thăm của chính Đức Leo XIV
Tuy nhiên, các nhà tổ chức nhấn mạnh rằng chuyến đi này được thiết kế dành riêng cho Đức Leo XIV. Nó không nhằm mục đích tái hiện chuyến thăm mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô có thể đã thực hiện tới quê hương mình. Tại Nhà thờ chính tòa Buenos Aires, Đức Giáo Hoàng sẽ khánh thành một tấm bảng tưởng niệm vị tiền nhiệm của mình; đây được cho là sự kiện duy nhất mang tính chất tưởng niệm rõ rệt. Dù vậy, trong các bài phát biểu, rất có thể Đức Giáo Hoàng vẫn sẽ nhắc đến Đức Phanxicô vài lần.
Elisabetta Piqué, một người bạn thân của vị Giáo hoàng người Argentina, nhận định: “Đức Leo XIV chính là bất ngờ cuối cùng của Đức Phanxicô”. Bà dự đoán rằng Đức Leo XIV sẽ nhận được sự chào đón đặc biệt nồng nhiệt. Trong cuốn sách The Election of Pope Leo XIV: The Last Surprise of Pope Francis (tạm dịch: Cuộc bầu chọn Giáo hoàng Leo XIV: Bất ngờ cuối cùng từ Giáo hoàng Phanxicô), Piqué – một phóng viên của tờ báo La Nación – cùng chồng bà là nhà báo Gerard O’Connell lập luận rằng vị Giáo hoàng đương nhiệm từng là “một trong những ứng viên” được người tiền nhiệm của ngài ưu ái.
Bartholomew – vị Thượng phụ bắc nhịp cầu
Vũ Văn An
15:44 30/10/2026
Trong tuần qua, Đức Thượng phụ Đại kết đã lặng lẽ tham gia các cuộc gặp tại Vatican – những sự kiện mà nếu diễn ra vào thời điểm ngài mới nhậm chức, hẳn đã trở thành tâm điểm chú ý của thế giới.

ED. CONDON, đồng chủ bút tạp chí mạng The Pillar, ngày 28 tháng 10, 2026, cho biết: Đức Thượng phụ Đại kết Bartholomew I của Constantinople đã có mặt tại Rome trong tuần này. Hôm thứ Bảy, ngài đã gặp Đức Giáo Hoàng Leo XIV, sau đó tiếp tục có cuộc gặp với Đức Tổng Giám Mục Trưởng Sviatoslav Shevchuk của Giáo Hội Công Giáo Hy Lạp Ukraine.
Cả hai cuộc gặp này đều không thu hút nhiều sự chú ý hay truyền thông đưa tin, mặc dù xét về khách quan, việc người đứng đầu Chính thống giáo toàn cầu đến Rome để gặp gỡ Đức Giáo Hoàng và người đứng đầu Giáo Hội Công Giáo Đông phương lớn nhất là một sự kiện vô cùng quan trọng.
Việc các cuộc gặp này diễn ra một cách lặng lẽ – hay ít nhất là không gây nhiều tiếng vang – đã phản ánh rõ nét chặng đường 35 năm tại vị của Đức Thượng phụ Bartholomew. Trong suốt quãng thời gian đó, những cử chỉ hiệp nhất quan trọng giữa Đông và Tây phương đã chuyển từ những sự kiện mang tính lịch sử trở thành điều gần như thường nhật.
Đức Bartholomew đã khẳng định vị thế là trụ cột trong mối quan hệ Công Giáo – Chính thống giáo, đồng thời là động lực bền bỉ thúc đẩy sự gắn kết gần gũi, cá nhân hơn giữa Rome và Constantinople. Ngài thường xuyên bày tỏ hy vọng về sự hiệp thông trọn vẹn giữa hai Giáo hội.
Ở tuổi 86, ngài vẫn không hề có dấu hiệu chậm lại. Trong bối cảnh Giáo hội Chính thống giáo Nga tiếp tục gây chia rẽ trong cộng đồng Chính thống giáo Đông phương, vai trò lãnh đạo của ngài vẫn vô cùng cần thiết.
Tuy nhiên, đâu là triển vọng và phương án cho một bước đột phá lớn cùng vị Thượng phụ này? Và liệu đà phát triển mà ngài đã tạo dựng có thể tiếp tục duy trì sau khi triều đại của ngài kết thúc?
—
Kể từ chuyến thăm Rome đầu tiên vào năm 1995 để gặp Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Đức Bartholomew đã là khách mời của Vatican hơn 15 lần. Đáng chú ý, năm 2013, ngài trở thành vị Thượng phụ Constantinople đầu tiên tham dự lễ nhậm chức của một vị Giáo hoàng kể từ sau cuộc Đại Ly giáo.
Ngược lại, kể từ năm 1995, các Đức Giáo Hoàng chỉ mới có hai lần đến thăm Đức Thượng phụ tại Constantinople/Istanbul, đó là dưới thời Đức Bênêđíctô XVI và Đức Phanxicô. Đức Gioan Phaolô II đã thực hiện chuyến thăm vào năm 1979, còn Đức Thượng phụ Bartholomew cũng đã đến Thổ Nhĩ Kỳ để tham dự các hoạt động kỷ niệm đại kết tại Ni-xê-a vào năm ngoái. Dù cả hai bên đều nhiệt thành với đối thoại đại kết, nhưng vẫn có những lý do thực tế khiến số lượng chuyến thăm không cân bằng: đối với vị Giáo hoàng, một chuyến công du đến Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay không chỉ là một sự kiện ngoại giao quy mô lớn mà còn là một thách thức an ninh vô cùng phức tạp.
Tuy nhiên, trong nhiều thế kỷ, một đặc điểm nổi bật trong quan hệ Đông - Tây chính là sự chú trọng vào hình thức và vị thế; việc khẳng định vị thế của vị Thượng phụ ngang hàng với Giáo hoàng — chứ không phải là cấp dưới hay người cầu cạnh — là một vấn đề cần được khéo léo nhấn mạnh. Hay ít nhất, đó từng là vấn đề quan trọng trong quá khứ.
Đức Thượng phụ Bartholomew luôn tỏ ra thoải mái trong mối quan hệ huynh đệ với các vị Giám mục thành Rome kế nhiệm nhau, và ngài ít bận tâm hơn nhiều đến việc phô trương vị thế. Có lẽ, chính nhờ những bước tiến mà ngài tạo ra trong cách nhìn nhận vấn đề này, mà ngày nay chúng ta khó có thể hình dung được các cuộc gặp gỡ giữa Giáo hoàng và Thượng phụ trong những thập niên trước từng phức tạp và nặng nề về nghi thức đến mức nào.
Tương tự, cuộc gặp giữa Đức Thượng phụ Bartholomew và Đức Tổng Giám Mục Trưởng Shevchuk trong tuần này cho thấy một tinh thần sẵn sàng đối thoại — điều vốn hiếm thấy trong lịch sử — nhưng lại được ngài thể hiện một cách hoàn toàn tự nhiên, như thể đó là chuyện bình thường.
Một trong những rào cản dai dẳng nhất đối với sự hòa giải định chế giữa Đông và Tây chính là sự tồn tại của nhiều Giáo Hội Công Giáo Đông phương (như Giáo Hội Công Giáo Hy Lạp Ukraine). Các Giáo hội này có những nét tương đồng rõ rệt về lịch sử và văn hóa với cộng đồng Chính thống giáo, vốn từ lâu đã coi họ là một dạng giáo phái ly khai.
Khó có thể tưởng tượng được rằng bất kỳ vị tiền nhiệm nào của Đức Thượng phụ Bartholomew lại có thể thực hiện một cuộc gặp gỡ thân thiện tại Vatican — như cách ngài đã làm vào thứ Ba vừa qua — với người đứng đầu một nhóm mà trước đây họ từng coi là giáo phái ly khai khỏi chính Giáo hội của mình. Thế nhưng, cũng giống như trong nhiều cuộc gặp với Đức Giáo Hoàng, Đức Thượng phụ đã thành công trong việc bình thường hóa những điều mà trước đây từng bị coi là gần như không thể — hoặc ít nhất là không xứng tầm với cương vị của ngài.
Mặc dù thái độ bản thân và phong cách lãnh đạo của Đức Thượng phụ Bartholomew — vốn được củng cố nhờ quãng thời gian tại vị lâu dài — đóng vai trò then chốt trong sự thay đổi này suốt nhiều thập niên qua, thì các diễn biến khách quan cũng góp phần tạo nên tính cấp bách và thúc đẩy một sự tái định hình nhất định về mặt giáo hội học, đặc biệt do những tác động từ phía Nga. Việc Giáo hội Chính thống giáo Nga dần chuyển mình – không chỉ trở thành một cực quyền lực đối trọng trong cộng đồng Chính thống giáo trên thực tế, mà còn chính thức tuyên bố vị thế đứng đầu – đã trở thành yếu tố then chốt làm thay đổi mối quan hệ giữa Công Giáo và Chính thống giáo. Khi Giáo hội Nga ngày càng thể hiện rõ vai trò là một cơ quan hỗ trợ cho chính phủ Nga, đồng thời là nền tảng tư tưởng cho cuộc chiến của Vladimir Putin tại Ukraine cùng thế giới quan địa chính trị đi kèm, những rạn nứt đã bắt đầu xuất hiện giữa các Giáo hội phương Đông.
Có lẽ quyết định đáng chú ý nhất của Thượng phụ Bartholomew trong nhiệm kỳ của mình là việc công nhận tính độc lập (autocephaly) của Giáo hội Chính thống giáo Ukraine – một thực thể tách biệt với Giáo hội Chính thống giáo Ukraine vốn nằm dưới quyền kiểm soát của Tòa Thượng phụ Moscow. Hành động này đã châm ngòi cho việc các bên tại Moscow và Constantinople đưa ra những lời tuyệt thông lẫn nhau, đồng thời tạo ra một rạn nứt giữa đa số các Giáo hội Chính thống giáo với những bên đứng về phía Nga.
Thượng phụ Kirill đã thúc đẩy — thông qua các văn bản cũng như tấm gương công khai — một kiểu thần học dân tộc-chủng tộc mang màu sắc thần quyền (divine right). Tư tưởng này khiến Thượng phụ Bartholomew cũng như các vị Giáo hoàng gần đây cảm thấy kinh ngạc và lo ngại. Tình trạng hiện tại tại Ukraine cho thấy các Giáo hội Chính thống giáo đối địch đang tồn tại với những hệ thống phẩm trật xung đột về mặt thần học; sự xung đột này dường như còn gay gắt hơn cả những khác biệt giữa, chẳng hạn, Giáo Hội Công Giáo Hy Lạp Ukraine và Giáo hội Chính thống giáo Hy Lạp.
Thực vậy, Giáo Hội Công Giáo Ukraine đã đề cập đến vấn đề này trong tuyên bố đưa ra hôm thứ Ba: “Người đứng đầu Giáo Hội Công Giáo Hy Lạp Ukraine bày tỏ lòng biết ơn đối với Thượng phụ Đại kết vì sự ủng hộ không ngừng dành cho Ukraine, đặc biệt là việc ngài lên tiếng bác bỏ về mặt tâm linh đối với hệ tư tưởng ‘Thế giới Nga’ (Russian World). Theo Đức Tổng Giám Mục Sviatoslav, hệ tư tưởng này không chỉ là thách thức đối với người dân Ukraine mà còn đối với tất cả các Kitô hữu, bất kể họ thuộc giáo phái nào; do đó, cần có một phản ứng chung dựa trên các mối quan hệ đại kết.”
Tuy nhiên, cũng giống như tình hình cuộc chiến tại Ukraine, các mối quan hệ giữa các Giáo hội Chính thống giáo — cả trong nội bộ cộng đồng Chính thống giáo lẫn với Giáo Hội Công Giáo — dường như đang rơi vào thế bế tắc. Mọi bên đều đồng ý rằng tình trạng này không thể kéo dài, nhưng dường như chẳng ai tìm ra cách giải quyết.
Trong một động thái được cho là nhằm phản hồi về những căng thẳng trong nội bộ Chính thống giáo, Thượng phụ Bartholomew chia sẻ với tờ The Pillar vào năm 2024 rằng, mặc dù các tuyên bố thần học chung mới và mối quan hệ gần gũi hơn là những thành tựu tích cực trong khuôn khổ hợp tác Công Giáo - Chính thống giáo, bất cứ thỏa thuận nào cũng “tuyệt đối không được gây thêm căng thẳng giữa các Giáo hội của chúng ta, đặc biệt là giữa các Giáo hội Chính thống giáo địa phương khác nhau,” bao gồm cả phía Nga.
Dẫu vậy, vào năm ngoái, trong giai đoạn chuẩn bị cho các hoạt động kỷ niệm đại kết tại Ni-xê-a, vị Thượng phụ tái khẳng định rằng ngài “hoàn toàn cam kết hàn gắn những chia rẽ giữa các Giáo hội của chúng ta.”
“Chúng tôi cầu nguyện tha thiết cho việc hàn gắn cuộc ly giáo năm 1054 giữa Rome và Constantinople,” ngài nói. Về phần mình, Đức Giáo Hoàng Lêô cho rằng: “Chúng ta phải cùng nhau bước đi để đạt tới sự hiệp nhất và hòa giải giữa tất cả các Kitô hữu. Kinh Tin Kính Ni-xê-a có thể là nền tảng và điểm quy chiếu cho hành trình này. Kinh Tin Kính mang đến cho chúng ta một mô hình về sự hiệp nhất đích thực trong sự đa dạng chính đáng.”
Việc xác định những giới hạn phù hợp và được cả hai bên chấp nhận cho sự đa dạng chính đáng đó đã là chủ đề của các cuộc đàm phán đại kết kéo dài suốt một thiên niên kỷ. Thế nhưng, giờ đây, Constantinople dường như đang tiến gần hơn đến Rôma so với bất kỳ thời điểm nào trong suốt một ngàn năm qua — và khoảng cách ngày càng lớn giữa Mátxcơva với phần còn lại của thế giới Kitô giáo càng làm nổi bật sự gần gũi đó.
Lựa chọn đặt ra cho Thượng phụ Bartholomeos là: liệu ngài có thực hiện một nỗ lực mang tính đột phá để khỏa lấp khoảng cách cuối cùng giữa Đông và Tây, hay ngài tự xem mình là một kiểu “người bắc cầu” khác — một người đã chuẩn bị sẵn nền tảng để thế hệ lãnh đạo Chính thống giáo kế tiếp có thể thực hiện bước đi quyết định cuối cùng?
VietCatholic TV
Ukraine thắng lớn, áp sát tuyến hậu cần Nga. Neptune phá tan tành 2 Su-34. Vùng Nga không dám đến
VietCatholic Media
04:13 30/10/2026
1. Hải quân Ukraine cho biết họ đã phá hủy 2 máy bay ném bom Su-34 của Nga trong một cuộc tấn công bằng hỏa tiễn Neptune vào phi trường.
Hôm Thứ Sáu, 30 Tháng Mười, Thuyền trưởng Trung Tá Dmytro Pletenchuk, phát ngôn nhân Hải Quân, báo cáo rằng Hải Quân Ukraine đã phá hủy hai máy bay chiến đấu Su-34 của Nga trong một cuộc tấn công vào phi trường quân sự Marinovka ở tỉnh Volgograd của Nga, bằng cách sử dụng hỏa tiễn Neptune do trong nước sản xuất.
Theo Trung Tá Dmytro Pletenchuk, các máy bay đã bị phá hủy tại căn cứ của Trung đoàn Không quân Hỗn hợp số 11 gần khu dân cư Oktyabrsky. Trung đoàn này thuộc Sư đoàn Không quân Hỗn hợp số 4 của Quân đoàn Không quân và Phòng không số 4 của Nga.
Sáng Thứ Sáu, 30 Tháng Mười, Tổng thống Volodymyr Zelenskiy xác nhận việc hai máy bay Su-34 bị phá hủy, đồng thời cho biết thêm lực lượng Ukraine cũng đã bắn trúng một bệ phóng hỏa tiễn Iskander của Nga.
Su-34 là một trong những loại máy bay chủ lực của Nga được sử dụng để phóng bom dẫn đường vào các thành phố, thị trấn tiền tuyến và các vị trí quân sự của Ukraine. Các cuộc tấn công nhằm vào những máy bay này có thể làm suy yếu khả năng thực hiện các cuộc tấn công như vậy của Nga, trong khi việc bù đắp những tổn thất đòi hỏi thời gian và nguồn lực đáng kể.
Tính đến ngày 22 tháng 10, Nga có khoảng 140 máy bay chiến đấu-ném bom Su-34 thuộc nhiều biến thể khác nhau đang hoạt động, bao gồm cả phiên bản hiện đại hóa Su-34M, theo báo cáo của cơ quan tình báo quân sự Ukraine, gọi tắt là HUR ngày 29 tháng 10.
Theo hãng tin này, Nga đã mất 43 máy bay Su-34 bị phá hủy và 7 chiếc khác bị hư hại kể từ khi bắt đầu cuộc xâm lược toàn diện Ukraine.
"Những tổn thất như vậy là khá đáng kể đối với phi đội máy bay của bên gây hấn, việc khôi phục chúng đòi hỏi một chu kỳ sản xuất dài, nguồn tài chính đáng kể và sự hợp tác công nghiệp chuyên biệt," HUR cho biết.
Cơ quan này ước tính rằng Nga có thể sản xuất khoảng 14 đến 18 máy bay Su-34 mỗi năm, có nghĩa là số lượng máy bay bị phá hủy tương đương với sản lượng trong khoảng 2,5–3 năm.
[Kyiv Independent: Ukraine destroys 2 Russian Su-34 bomber jets in Neptune missile strike on airfield, Navy says]
2. Bản đồ cho thấy các cuộc tiến công trên chiến trường của Ukraine đang đe dọa các tuyến đường tiếp tế quan trọng của Nga.
Theo các nguồn tin, lực lượng Ukraine đang đạt được những bước tiến nhanh chóng trên chiến trường, điều này có thể đe dọa khả năng tiếp tế cho quân đội Nga, khi một bản đồ cho thấy tình trạng của một phần chiến tuyến.
Một nhà quan sát quân sự Ukraine đánh giá rằng lực lượng Ukraine đã đạt được những tiến công theo hướng Oleksandrivka, nằm ở giao điểm của các tỉnh Dnipropetrovsk, Donetsk và Zaporizhzhia.
Điều này có thể đe dọa hoạt động hậu cần của Nga tại khu vực mà lực lượng Ukraine đã giải phóng các thị trấn và đạt được những bước tiến nhất định, theo nhận định của Viện Nghiên cứu Chiến tranh, gọi tắt là ISW, cho thấy đây là một đợt tấn công mới của Kyiv.
Ukraine đã đạt được những thành tựu gì?
Truyền thông Ukraine và ISW đã đưa tin về đánh giá của Kostiantyn Mashovets, điều phối viên của nhóm Thông tin Kháng chiến.
Mặc dù ông không phát ngôn thay mặt cho quân đội hay chính phủ Ukraine, nhưng ông thường xuyên cung cấp những thông tin cập nhật chi tiết về tình hình tiền tuyến.
Các bài đăng trên Telegram của ông mô tả việc lực lượng Ukraine đã tái chiếm các khu dân cư Perebudova, Komar và Fedorivka ở Donetsk, nằm ở phía đông và nam của Oleksandrivka, như bản đồ của ISW cho thấy.
Ukraine đã tiến hành các cuộc phản công trên trục Oleksandrivka kể từ tháng Hai, điều mà ISW cho rằng không chỉ nhằm mục đích giành lại lãnh thổ mà còn là một phần trong nỗ lực làm gián đoạn các kế hoạch tấn công của Nga.
Mashovets cho biết quân đội Ukraine cũng đã tiến từ Vesele về phía Skudne, điều mà ISW cho rằng chứng tỏ quân đội Nga có thể đã bị đẩy lùi khỏi một mũi nhọn ở phía tây bắc của tuyến Fedorivka-Burlatske.
Tuy nhiên, bất chấp những thắng lợi của Ukraine, lực lượng Nga vẫn đang giữ các vị trí ở rìa phía đông bắc của Perebudova, thuộc phía tây Donetsk, có nghĩa là tình hình vẫn đang tranh chấp.
Theo Mashovets, lực lượng Nga cũng đã tiến về phía tây nam Novopavlivka thuộc tỉnh Dnipropetrovsk, ngay sát biên giới với Donetsk.
"Giao tranh ác liệt vẫn tiếp diễn ở phía nam con đường Zaporozhia-Donetsk," ông nói, và cho biết thêm, "kẻ địch đã kháng cự khá ngoan cường, đôi khi còn cố gắng phản công."
Các cuộc phản công của Ukraine theo hướng Oleksandrivka đã khiến Mạc Tư Khoa phải điều chuyển các đơn vị hải quân và thiết giáp vốn được dự định thực hiện các hoạt động tấn công ở những nơi khác.
Điều này bao gồm các đơn vị thuộc Sư đoàn Thủy quân lục chiến số 120 của Nga (Hạm đội Baltic) và Lữ đoàn Thủy quân lục chiến độc lập số 40 (Hạm đội Thái Bình Dương). ISW lưu ý rằng các đơn vị này tinh nhuệ và có khả năng chiến đấu cao hơn các đơn vị khác trong quân đội Nga, qua đó thể hiện rõ các ưu tiên của Mạc Tư Khoa.
Những diễn biến trên chiến tuyến diễn ra sau cuộc phản công của Ukraine, Chiến dịch Vivaldi, bắt đầu từ mùa hè và kết thúc trong tháng này.
Họ đã ngăn chặn các nỗ lực của lực lượng Nga nhằm bao vây trục Lyman ở phía bắc Donetsk và "Vành đai pháo đài" gồm các thành phố được phòng thủ kiên cố, vốn rất quan trọng đối với việc phòng thủ khu vực Donbas của Ukraine.
Tuy nhiên, như nhà phân tích quân sự Giorgi Revishvili đã nói với Newsweek hồi đầu tháng này, một thách thức lớn đối với Ukraine là khả năng gia tăng việc sử dụng trang thiết bị quân sự của lực lượng Nga, những người dường như đang chờ thời tiết lạnh hơn để cố gắng đột phá.
Ông Revishvili cho biết, khi bước vào mùa đông, lực lượng Ukraine có thể phải đối mặt với tầm nhìn hạn chế và khả năng trinh sát suy giảm, trong khi thời tiết xấu cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng tấn công.
"Những điều kiện này có thể tạo điều kiện cho lực lượng Nga có nhiều cơ hội hơn để thâm nhập vào các vị trí của Ukraine và triển khai các trang thiết bị hạng nặng sâu hơn trong chiến trường", ông nói thêm.
[Newsweek: Map Shows Ukraine’s Battlefield Advances Threatening Key Russian Supply Lines]
3. Những người Nga bị bắt giữ cho biết có một nơi trên mặt trận Kupiansk mà họ sẽ không bao giờ đến: đó là hành lang an toàn "Orion".
Những binh lính Nga bị bắt giữ có một quy tắc đối với một đoạn chiến tuyến Kupiansk: đi bất cứ đâu, trừ nơi đó.
Đoạn đường đó là "hành lang an toàn" mà đơn vị "Orion" thuộc lữ đoàn Vệ binh Tấn công "Pomsta" của Ukraine cho biết họ đã xây dựng cho các robot mặt đất của mình. Khu vực này nguy hiểm đến mức, theo thống kê của đơn vị, 88% lính Nga tấn công bị tiêu diệt trước khi đến được vị trí của họ, và xe tăng Nga không thể tiến vào trong phạm vi 25 km, theo trang tin quân sự ArmyInform.
Đằng sau lớp bảo vệ đó, đơn vị này cho biết các robot mặt đất của họ đã thực hiện hàng chục nhiệm vụ hoàn toàn tự động trên những địa hình nguy hiểm nhất dọc trục chiến tuyến, với tỷ lệ thành công là 99,57%. Kết quả này đã giúp Orion trở thành đơn vị được xếp hạng cao nhất về hiệu quả trên trục Nam-Kupiansk trong tháng 9 theo hệ thống quản lý chiến trường DELTA của Ukraine.
"Bạn có thể đi bất cứ đâu, chỉ trừ khu vực Orion."
Theo đơn vị này, tuyên bố rằng người Nga hiện đang tránh khu vực này xuất phát từ chính họ.
"Các tù binh thừa nhận trong các cuộc phỏng vấn: ‘Các anh có thể đi bất cứ đâu, chỉ trừ khu vực Orion.’ 88% đối phương bị tiêu diệt trước khi tiếp cận vị trí của chúng, và thiết bị của Nga không thể tiếp cận gần hơn 25 km," đơn vị này cho biết.
Đó chính là điều mở ra lối đi. Nơi mà việc vận chuyển đồ tiếp tế bằng con người sẽ là án tử hình, thì robot có thể băng qua, và băng qua nhiều lần.
Theo đơn vị này, mục tiêu là loại bỏ người lính khỏi công việc nguy hiểm nhất ở tiền tuyến: mang vác đạn dược và người bị thương băng qua làn đạn.
"Chúng tôi đã phá vỡ định kiến rằng việc tiếp tế cho quân đội cần đến các đoàn xe tải và hàng trăm binh lính dưới hỏa lực tấn công. Hệ thống robot của chúng tôi là ‘máu huyết thầm lặng’ của mặt trận", Vladyslav Zolotarov, một sĩ quan trong nhóm kiểm soát tham mưu của đơn vị, nói.
Khi Nga cho rằng các vị trí của chúng ta đã bị suy yếu, một phương tiện vận tải bánh xích sẽ lặng lẽ tiếp cận vào ban đêm và mang đến một lượng lớn đạn dược.
Theo đơn vị này, chỉ riêng trong tháng 9, các robot bánh lốp và bánh xích của họ đã thực hiện 85 nhiệm vụ chiến đấu khó khăn nhất và vận chuyển hơn 30.000 kg hàng hóa. Thành tích di tản là điều mà họ tự hào nhất: bốn nhiệm vụ giải cứu binh sĩ bị thương bằng robot, cả bốn đều thành công, không một người nào thiệt mạng.
Ukraine đã đặt cược lớn vào loại máy móc này, với mục tiêu triển khai 50.000 robot mặt đất để giữ cho quân đội của họ tránh xa vùng nguy hiểm do máy bay điều khiển từ xa kiểm soát.
[Euromaidan: Captured Russians say there is one place on Kupiansk front they will not go: "Orion" safety corridor]
4. Ukraine tấn công "cảng máy bay điều khiển từ xa" của Nga ở tỉnh Bryansk, gây hư hại các kho chứa.
Hôm Thứ Sáu, 30 Tháng Mười, Chuẩn tướng Oleksii Hromov, phát ngôn nhân Bộ Tổng tham mưu Ukraine, cho biết lực lượng nước này đã tấn công một cơ sở quân sự của Nga được sử dụng để phóng máy bay điều khiển từ xa tấn công tầm xa vào Ukraine.
Cuộc tấn công diễn ra đêm qua nhắm vào căn cứ máy bay điều khiển từ xa của Nga gần Navlya thuộc tỉnh Bryansk, cách biên giới Ukraine khoảng 70 km.
Theo Bộ Tổng tham mưu, các cuộc tấn công đã gây hư hại cho một kho chứa máy bay điều khiển từ xa tầm xa kiểu Geran của Nga, cũng như các kho chứa nhiên liệu và chất bôi trơn và chính "cảng máy bay điều khiển từ xa" đó.
Các phương tiện truyền thông Ukraine và các nhóm tình báo nguồn mở, gọi tắt là OSINT đã theo dõi việc Nga xây dựng một số "phi trường" lớn được thiết kế cho các hệ thống điều khiển từ xa dọc theo khu vực biên giới phía tây của Nga.
Việc xây dựng các "cảng máy bay điều khiển từ xa" mới này phản ánh sự đầu tư ngày càng tăng của Mạc Tư Khoa vào máy bay điều khiển từ xa tấn công tầm xa như một công cụ chiến lược dài hạn, có thể được sử dụng để chống lại Ukraine hoặc các quốc gia ở sườn phía đông của NATO.
Vụ tấn công ngày 29 tháng 10 là cuộc tấn công thứ hai vào cơ sở Navlya, vụ đầu tiên diễn ra vào ngày 3 tháng 8, cũng nhắm vào các cơ sở phóng và lưu trữ hỏa tiễn.
[Kyiv Independent: Ukraine strikes Russian 'drone port' in Bryansk Oblast, damaging storage facilities, military says]
5. Theo HUR, Nga đang xây dựng một địa điểm phóng máy bay điều khiển từ xa mới gần phi trường Millerovo ở tỉnh Rostov.
Ngày 28 tháng 10, Cơ quan Tình báo Quân sự Ukraine, gọi tắt là HUR cho biết, trích dẫn hình ảnh vệ tinh, Nga đang xây dựng một địa điểm mới để vận hành máy bay điều khiển từ xa tấn công gần phi trường Millerovo, sát biên giới Ukraine.
Sân bay này nằm ở làng Dolotinka thuộc tỉnh Rostov của Nga, cách tỉnh Luhansk của Ukraine khoảng 20 km về phía đông.
Theo HUR, thiết kế của cơ sở này cho thấy nó được dùng để chuẩn bị và phóng các máy bay điều khiển từ xa tấn công chạy bằng động cơ phản lực, có thể là các mẫu Geran-4 và Geran-5 cùng các biến thể của chúng.
"Việc xây dựng cơ sở này ở vùng Rostov có thể là một phần trong kế hoạch chuẩn bị của Nga nhằm tăng cường các cuộc tấn công vào lãnh thổ Ukraine, đặc biệt là trong mùa đông", HUR cho biết.
HUR ước tính rằng sau khi hoàn thành xây dựng, địa điểm này có thể đáp ứng được tới 100 lần phóng máy bay điều khiển từ xa mỗi ngày.
Thông cáo cho biết, nhịp độ hoạt động thực tế của địa điểm này sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm nguồn cung cấp máy bay điều khiển từ xa thành phẩm, lượng nhiên liệu và đầu đạn sẵn có, số lượng phi công điều khiển máy bay điều khiển từ xa được đào tạo, sự sẵn sàng của thiết bị và các nhiệm vụ do Nga giao.
Tính đến cuối tháng 8 năm 2026, không có dấu hiệu đáng kể nào cho thấy hoạt động xây dựng đang diễn ra tại địa điểm này. Kể từ đó, các vị trí phóng và cơ sở hạ tầng khác phục vụ hoạt động của máy bay điều khiển từ xa đã được thiết lập, HUR cho biết.
[Kyiv Independent: Russia building new drone launch site near Millerovo airfield in Rostov Oblast, HUR says]
6. Tổng thống Zelenskiy cho biết Mỹ đề xuất thiết lập các khu phi quân sự ở Donbas.
Hôm Thứ Năm, 29 Tháng Mười, Tổng thống Volodymyr Zelenskiy nói với các nhà báo rằng Mỹ đề xuất thiết lập các khu phi quân sự ở Donbas và một phần của bán đảo Kinburn như những thỏa hiệp tiềm năng trong các cuộc đàm phán nhằm chấm dứt cuộc chiến của Nga.
Theo hãng tin Interfax-Ukraine đưa tin từ cuộc họp, Ukraine đã sẵn sàng thảo luận về các đề xuất xuất hiện trong các phiên bản khác nhau của văn kiện đàm phán.
"Đã có đề xuất tạo ra một vùng đệm hoặc một khu vực phi quân sự ở cả hai phía của đường ranh giới tiếp xúc."
Ông cho rằng các cuộc thảo luận bắt nguồn từ kế hoạch hòa bình 28 điểm của Mỹ, và những ý tưởng này đã được phát triển qua nhiều văn bản khác nhau.
Đối với Donbas, đề xuất này dự kiến một khu vực trải dài theo cả hai hướng từ tiền tuyến. Tổng thống Zelenskiy mô tả sự sẵn lòng thảo luận về đề xuất này của Ukraine như một sự thỏa hiệp tiềm năng.
Một đề xuất khác liên quan đến việc phi quân sự hóa một phần bán đảo Kinburn Spit, thuộc vùng Mykolaiv phía nam Ukraine, khu vực này có thể vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Ukraine.
Các đề xuất khác của phía Mỹ đề cập đến tương lai của nhà máy điện hạt nhân Zaporizhzhia bị Nga tạm chiếm và khả năng trao đổi lãnh thổ, được mô tả trong các cuộc đàm phán là hoán đổi đất đai.
Tổng thống Zelenskiy cho biết Washington đã nhắc lại vấn đề các khu phi quân sự trong các cuộc thảo luận sau đó, nhưng hiện tại vẫn chưa có tiến triển nào thêm về vấn đề lãnh thổ.
Các quyết định về lãnh thổ đòi hỏi phải có sự đàm phán giữa các nhà lãnh đạo.
Tổng thống cho rằng các vấn đề lãnh thổ không thể được giải quyết chỉ thông qua các văn kiện dự thảo hoặc các cuộc tiếp xúc sơ bộ. Chúng đòi hỏi các cuộc gặp ở cấp độ chính trị thích hợp.
Ông nói thêm rằng Ukraine vẫn sẵn sàng thảo luận vấn đề này vì Nga đã nhiều lần nêu ra và đưa nó vào chương trình nghị sự đàm phán.
Sự khác biệt này là trọng tâm trong lập trường của Kyiv: Việc sẵn sàng xem xét một đề xuất đàm phán không đồng nghĩa với việc chấp nhận chủ quyền của Nga đối với lãnh thổ Ukraine bị tạm chiếm.
Theo báo cáo, khuôn khổ của Mỹ bao gồm cả khu vực Donbas.
Những phát biểu này được đưa ra sau các báo cáo cho rằng Washington đang phát triển một gói giải pháp toàn diện hơn, kết hợp các thỏa thuận an ninh, các biện pháp khuyến khích kinh tế và các đề xuất giải quyết các vấn đề lãnh thổ tranh chấp.
Một khuôn khổ được Mỹ đưa ra bao gồm một khu vực phi quân sự ở Donbas, cùng với một gói đầu tư và triển vọng Ukraine gia nhập Liên Hiệp Âu Châu để đổi lấy việc từ bỏ nỗ lực gia nhập NATO.
Bài báo của The Economist cũng mô tả những lợi ích tiềm năng cho Mạc Tư Khoa, bao gồm các thỏa thuận thương mại với các công ty Mỹ, việc dỡ bỏ lệnh trừng phạt và khôi phục quan hệ chính trị với Washington.
Cả Ukraine và Mỹ đều không tuyên bố rằng Kyiv đã chấp nhận các điều khoản đó.
Gói biện pháp được công bố sau các cuộc tham khảo ý kiến tại Oslo ngày 20 tháng 10 giữa Tổng thống Zelenskiy, đặc phái viên Mỹ Steve Witkoff và các đối tác Âu Châu. Sau đó, ông Witkoff đã gặp Putin tại St. Petersburg vào ngày 21 tháng 10.
Kyiv mong muốn một lệnh ngừng bắn và an ninh lâu dài.
Tổng thống Zelenskiy cũng tuyên bố riêng rằng Ukraine sẵn sàng đóng băng chiến tuyến để chấm dứt giao tranh, đồng thời từ chối công nhận lãnh thổ bị tạm chiếm là của Nga.
Trong một cuộc phỏng vấn được đưa tin vào thứ Bảy, ngày 24 tháng 10, ông đã bác bỏ ý kiến cho rằng Nga đã kiểm soát 25% lãnh thổ Ukraine, đưa ra con số chính xác là 19,3%. Ông nói rằng để đạt được con số cao hơn, Ukraine cần phải nhượng lại phần còn lại của Donbas.
Quan điểm đó phân biệt việc ngừng giao tranh dọc theo các vị trí quân sự hiện có với việc nhượng lại đất đai của Ukraine một cách hợp pháp.
Kyiv cũng đang thúc đẩy việc bảo đảm an ninh có thể thực thi và hỗ trợ bền vững cho quân đội của mình để ngăn chặn một cuộc xâm lược khác của Nga.
Phát biểu tại Viện Hudson ở Washington hôm thứ Sáu, ngày 23 tháng 10, Tổng thống Zelenskiy kêu gọi ít nhất 10 năm tài trợ quân sự quốc tế. Ông nói Ukraine vẫn cần câu trả lời rõ ràng về cách các đối tác Mỹ và Âu Châu sẽ phản ứng trước các cuộc tấn công mới của Nga.
Ông lập luận rằng một thỏa thuận ngừng bắn phải được hỗ trợ bởi một quân đội Ukraine mạnh mẽ và những cam kết cụ thể từ các đồng minh, bao gồm cả những bảo đảm tiềm năng từ phía Mỹ dựa trên Điều 5 của NATO và được Quốc hội phê chuẩn.
[Kyiv Post: US Proposed Demilitarized Zones in Donbas, Zelensky Says]
7. Tổng thống Macron nói Nga đang lựa chọn "leo thang" sau vụ tấn công chết người tại nhà ga xe lửa Dnipro ở Ukraine.
Tổng thống Pháp Emmanuel Macron hôm thứ Năm đã lên án "sự leo thang" của Nga tại Ukraine sau khi một máy bay điều khiển từ xa của Nga tấn công một nhà ga xe lửa đông người ở Dnipro, khiến ít nhất 14 người thiệt mạng và 14 người khác bị thương.
"Tôi vừa hay tin, với nỗi đau buồn sâu sắc, rằng một máy bay điều khiển từ xa chạy bằng động cơ phản lực của Nga đã tấn công ga tàu Dnipro, gây ra thiệt hại rất lớn", Macron nói.
"Việc Nga tiếp tục bác bỏ mọi đề xuất nhằm mục đích này, thay vào đó lại chọn cách leo thang căng thẳng và tấn công vào dân thường là điều không thể chấp nhận được", ông nói thêm.
Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy cho biết cuộc tấn công đã xảy ra tại một sân ga nơi có một đoàn tàu chở khách và một đoàn tàu chở người đi làm đang dừng.
Sáu người bị thương đang trong tình trạng nguy kịch, trong đó có một cậu bé 11 tuổi và một người đàn ông bị mất cả hai chân, Thống đốc vùng Dnipropetrovsk, Oleksandr Hanzha cho biết.
Không quân Ukraine cho biết họ đã đánh chặn ba máy bay điều khiển từ xa phản lực của Nga trong cuộc tấn công ban ngày, nhưng chiếc thứ tư đã vượt qua hệ thống phòng không và tấn công trạm không lưu.
Tổng thống Zelenskiy gọi vụ tấn công là "kinh hoàng" và kêu gọi các đồng minh không nên giảm bớt áp lực lên Mạc Tư Khoa.
Ông nói: "Không được nới lỏng các biện pháp trừng phạt đối với Mạc Tư Khoa và cỗ máy chiến tranh của nước này chừng nào cuộc chiến với Nga còn tiếp diễn."
Ông cũng đặt câu hỏi về quyết định nới lỏng một số lệnh trừng phạt đối với ngành năng lượng của Nga, cho rằng Mạc Tư Khoa đã tiếp tục các cuộc tấn công thay vì giảm leo thang.
Các quan chức địa phương cho biết, ít nhất sáu người nữa đã thiệt mạng trong các vụ tấn công riêng biệt của Nga trên khắp Ukraine vào thứ Năm.
Tại Chernihiv, phía bắc Kyiv, một cuộc không kích của Nga đã khiến hai bé gái 15 tuổi thiệt mạng và gần hai chục người bị thương, trong đó có bốn trẻ em, theo các quan chức địa phương.
Tại Kremenchuk, miền trung Ukraine, một máy bay điều khiển từ xa đã tấn công một tòa nhà chung cư nhiều tầng, khiến ba người thiệt mạng và nhiều người khác bị thương, trong đó có một đứa trẻ sáu tuổi.
Tuyên bố của Macron được đưa ra trong bối cảnh Ukraine và Nga duy trì một thỏa thuận ngừng bắn mong manh tại khu vực Oleshky bị Nga tạm chiếm ở vùng Kherson, nơi người dân đã phải đối mặt với tình trạng thiếu lương thực, nước uống và thuốc men trong nhiều tháng.
Thỏa thuận ngừng bắn, hiện đã bước sang ngày thứ ba, nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận nhân đạo và có thể di tản dân thường bị mắc kẹt trong thành phố. Ông Dmytro Lubinets, nhà lãnh đạo cơ quan bảo vệ nhân quyền Ukraine, cho biết ông đã khởi hành cùng một phái đoàn Ukraine đến Oleshky qua Belarus và Nga.
Mạc Tư Khoa tuyên bố sẽ không giảm tốc độ tổng thể của cuộc chiến, ngay cả khi Kyiv và Mạc Tư Khoa đang chuẩn bị cho các cuộc đàm phán tiếp theo do Mỹ làm trung gian.
[Kyiv Post: Macron Says Russia Choosing ‘Escalation’ After Deadly Dnipro Train Station Strike in Ukraine]
8. Các bộ trưởng quốc phòng Âu Châu cảnh báo Putin không tìm kiếm hòa bình.
Các bộ trưởng quốc phòng hàng đầu Âu Châu và các đại diện Liên Hiệp Âu Châu cho biết Ukraine sẽ phải đối mặt với những tháng đầy thách thức phía trước, đồng thời nhấn mạnh rằng họ phải tiếp tục ủng hộ Kyiv bất chấp nỗ lực của Mỹ trong việc đàm phán với Nga.
"Nỗ lực ngoại giao mới đã xuất hiện, nhưng rõ ràng hành động của Putin lại kể một câu chuyện khác," Cao ủy phụ trách chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Âu Châu, Kaja Kallas, phát biểu tại một cuộc họp báo ở Paris hôm thứ Hai. Bà Kallas cho biết bà dự đoán một "mùa đông khắc nghiệt" đối với Kyiv và rằng "không có hy vọng về một nền hòa bình sắp xảy ra," đồng thời nhắc lại sự cần thiết phải giúp Ukraine "chống chọi với các cuộc tấn công và làm tăng chi phí cho Nga."
Kallas, cùng với Ủy viên Âu Châu phụ trách Quốc phòng và Không gian Andrius Kubilius, đã tham dự một cuộc họp với các bộ trưởng quốc phòng của nhóm E5 gồm Pháp, Anh, Đức, Ba Lan và Ý, được tổ chức tại Bộ Quốc phòng Pháp.
Cuộc gặp diễn ra trong bối cảnh Mỹ đang nỗ lực thúc đẩy Ukraine tham gia đàm phán hòa bình với Nga và ngày càng có nhiều nghi ngờ về sự ủng hộ của Washington dành cho Kyiv.
Tuần trước, đặc phái viên Mỹ Steve Witkoff cho biết ông sẽ đề nghị Putin đàm phán trực tiếp với Tổng thống Trump và Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy để đạt được thỏa thuận ngừng bắn.
"Những ai muốn đàm phán với Putin sẽ chẳng thu được kết quả gì cả," Bộ trưởng Quốc phòng Đức Boris Pistoripus nói. "Kết quả là gì? Chẳng dẫn đến đâu cả. Hoàn toàn không có tín hiệu nào cho thấy Putin đang tìm kiếm hòa bình."
Ông Wes Streeting của Anh nói thêm: "Mặc dù không ai trong chúng ta muốn đối đầu với Nga... nhưng chúng ta phải nhận thức được mối đe dọa do Nga gây ra."
Trong khi cam kết "minh bạch hoàn toàn" với Mỹ, bà Catherine Vautrin của Pháp cho biết các thành viên E5 sẽ "hợp tác cụ thể", tập trung vào sản xuất vũ khí và khả năng tương tác giữa các hệ thống vũ khí.
Ông Vautrin nói: "Hãy sản xuất nhiều hơn, nhanh hơn, sản xuất thiết bị phù hợp với các cuộc xung đột hiện nay – nhưng chúng ta phải lên kế hoạch cho các cuộc xung đột trong tương lai. Về vấn đề đó, các sáng kiến tài chính của Liên Hiệp Âu Châu có thể giúp chúng ta tiến theo hướng này."
[Politico: European defense ministers warn Putin isn’t looking for peace]
9. Putin nói các nhà lãnh đạo Bắc Âu đã đúng khi gọi điện cho ông, bất chấp sự chỉ trích từ Liên Hiệp Âu Châu.
Putin đã lên tiếng bảo vệ Tổng thống Phần Lan Alexander Stubb và Thủ tướng Na Uy Jonas Gahr Støre về cuộc điện đàm ngày 27 tháng 10 với ông, nói rằng họ đã đúng khi liên lạc bất chấp những lời chỉ trích từ các nhà lãnh đạo Âu Châu khác.
Phát biểu tại cuộc họp báo sau hội nghị thượng đỉnh Nga-Phi Châu hôm thứ Năm, ngày 29 tháng 10, Putin xác nhận rằng cuộc đối thoại diễn ra theo sáng kiến của các nhà lãnh đạo Bắc Âu và bao gồm nhiều vấn đề.
Theo hãng tin Interfax-Ru, Putin nói: "Tôi biết rằng sau đó họ đã bị chỉ trích, nhưng chúng ta không có quyền phán xét liệu cuộc gọi này đúng hay sai. Tôi tin rằng nó là đúng."
"Xét cho cùng, ở Âu Châu vẫn có những người không muốn giáng một đòn chiến lược vào Nga, như một số người vẫn làm, mà muốn thiết lập một cuộc đối thoại mang tính xây dựng nào đó", ông nói thêm.
Những phát biểu này được đưa ra cùng ngày Điện Cẩm Linh loại trừ khả năng Âu Châu tham gia vào các cuộc đàm phán tại Abu Dhabi với Ukraine và Mỹ vào tháng tới.
Theo tổng thống Nga, Mạc Tư Khoa ủng hộ mọi nỗ lực xây dựng lại quan hệ với Âu Châu, dù là với khối Liên Hiệp Âu Châu hay với từng quốc gia riêng lẻ.
Ông nói thêm rằng Nga luôn ủng hộ các bước tiến hướng tới việc khôi phục "quan hệ toàn diện và đầy đủ" với các quốc gia Âu Châu.
Tuy nhiên, trong cùng bài phát biểu đó, Putin cảnh báo rằng một cuộc chiến giữa Nga và Âu Châu sẽ "không có người thắng cuộc", đồng thời khẳng định phương Tây đã thất bại trong mục tiêu giáng một đòn chiến lược vào Nga và khó có thể đạt được điều đó vào năm 2030, theo hãng thông tấn nhà nước Nga TASS đưa tin.
Lời cảnh báo được đưa ra trong bối cảnh các chính phủ Âu Châu đang tăng cường chuẩn bị cho một cuộc đối đầu có thể xảy ra.
Lực lượng đặc nhiệm tinh nhuệ KSK của Đức đã bắt đầu huấn luyện cho vai trò trong chiến tranh thông thường với Nga, chuyển hướng khỏi trọng tâm truyền thống là giải cứu con tin và chống khủng bố, Chuẩn tướng Andreas Kuhne nói với báo BILD của Đức hồi đầu tuần này.
Các quốc gia Âu Châu cũng đang đối mặt với sự gia tăng các mối đe dọa từ chiến tranh hỗn hợp, bao gồm phá hoại, gián điệp, tấn công mạng và các vụ xâm phạm không phận thường xuyên bằng máy bay điều khiển từ xa.
Trong khi một số nhà lãnh đạo Âu Châu mô tả tình hình hiện tại đã gần như là một cuộc chiến, khi ranh giới giữa chiến thuật hỗn hợp và xung đột trực tiếp ngày càng mờ nhạt, những người khác lại thận trọng hơn, tránh sử dụng những thuật ngữ như vậy để tránh làm leo thang căng thẳng với Mạc Tư Khoa.
Cuộc trao đổi đột ngột này đã nhận được nhiều phản ứng trái chiều từ các đồng minh Âu Châu của Ukraine, đặc biệt là từ các nước Bắc Âu khác, những người cho rằng cuộc gọi này không được phối hợp trước với họ.
Theo Euronews, Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen cho biết bà "rất hoài nghi về sáng kiến độc lập này của Na Uy và Phần Lan", đồng thời nói thêm rằng việc Nga tiếp tục leo thang xung đột với Ukraine là bằng chứng cho thấy "Mạc Tư Khoa không nghiêm chỉnh trong ngoại giao".
"Trước đây chúng tôi đã nhấn mạnh, với sự ủng hộ rõ ràng từ phần còn lại của Âu Châu, rằng khi những người khác hành động đơn độc và, ví dụ, đến Mạc Tư Khoa, điều quan trọng là chúng ta, người Âu Châu, phải đoàn kết," bà nói tiếp, ám chỉ cựu Thủ tướng Hung Gia Lợi Viktor Orbán, người đã bay đến Nga để gặp Putin khi còn đương chức.
Thủ tướng Thụy Điển Ulf Kristersson nhắc lại rằng bà cũng "không kỳ vọng nhiều vào kiểu đối thoại trực tiếp này."
Ông Støre biện hộ cho lời kêu gọi này bằng cách nói rằng Âu Châu cần phải đối thoại với Nga, thay vì chỉ dựa vào những thông điệp được truyền đạt qua trung gian của chính quyền Mỹ, vốn có quan điểm khác về cuộc chiến.
Nội dung cuộc gọi cũng trở thành điểm gây tranh cãi.
Hôm thứ Tư, ngày 28 tháng 10, tờ Financial Times đưa tin rằng Putin đã dành phần lớn cuộc trò chuyện kéo dài 90 phút để thảo luận về lịch sử thời trung cổ, trong khi đề xuất ngừng bắn ngay lập tức hầu như không được nhắc đến.
Mặc dù các chi tiết chính xác của cuộc thảo luận vẫn chưa rõ ràng, nhưng những câu chuyện lịch sử được Putin lựa chọn một cách có chủ đích và những sự xuyên tạc trắng trợn đã nhiều lần bị các nhà sử học phương Tây phản bác như một cách để biện minh cho các hành động của Mạc Tư Khoa.
Người ta tin rằng những gì Putin nói không khác bao nhiêu so với tuyên bố của Aleksandr Dugin, người năm nay mới 64 tuổi nhỏ hơn Putin những 10 tuổi nhưng thường được xem là quân sư của Putin vì nhà độc tài thường trích dẫn Dugin. Theo Aleksandr Dugin, các nước Baltic là Estonia, Lithuania, Latvia, các nước Bắc Âu bao gồm Phần Lan, Thụy Điển, và các nước Đông Âu bao gồm Ba Lan và Ukraine đều là lãnh thổ lịch sử của Nga.
Ngày 20 tháng 10, họ đã tổ chức một cuộc gặp giữa Tổng thống Volodymyr Zelenskiy và đặc phái viên cao cấp của Mỹ, Steve Witkoff, để đàm phán tại Oslo, với sự tham gia trực tuyến của con rể Tổng thống Donald Trump, Jared Kushner.
Sau đó, Witkoff đã đến St. Petersburg để gặp trực tiếp Putin vào ngày 21 tháng 10, nơi ông thúc giục Putin xem xét nối lại các cuộc đàm phán ba bên với Ukraine và Mỹ, đồng thời mang theo các tài liệu phác thảo các phương án chấm dứt chiến tranh.
Điện Cẩm Linh nhắc lại rằng một nền hòa bình công bằng và lâu dài ở Ukraine chỉ có thể đạt được nếu lợi ích của Nga được xem xét đến.
[Kyiv Post: Putin Says Nordic Leaders Were Right to Call Him, Despite EU Criticism]
10. Một tuần trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, Tổng thống Trump treo thưởng 1 triệu đô la cho ai báo cáo gian lận bầu cử.
Tổng thống Trump đã treo thưởng 1 triệu đô la cho những người tố cáo gian lận bầu cử dẫn đến việc bắt giữ và kết án, làm tăng thêm giá trị tài chính cho nỗ lực bảo đảm tính toàn vẹn của cuộc bầu cử chỉ hơn một tuần trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026.
Tổng thống Trump đã công bố đề nghị này trên Truth Social, nói rằng nó sẽ áp dụng cho cả những cáo buộc gian lận trong các cuộc bầu cử trước đây và cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ ngày 3 tháng 11.
"Bất cứ ai tố cáo gian lận bầu cử trong các cuộc bầu cử trước đây, hoặc cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 sắp tới, sẽ được trả 1 triệu đô la sau khi những kẻ gây ra gian lận bị bắt giữ và kết tội!", Tổng thống Trump viết. "Cảm ơn sự quan tâm của các bạn đến vấn đề này. Tổng thống DONALD J. TRUMP."
Tổng thống Trump không nói rõ tiền sẽ đến từ đâu, người dân có thể cung cấp thông tin bằng cách nào, ai sẽ quyết định thông tin đó có đủ điều kiện hay không, hoặc liệu chương trình này có nằm trong một chương trình liên bang hiện có hay không. Tòa Bạch Ốc không cung cấp thêm chi tiết khi được Newsweek hỏi, thay vào đó chỉ dẫn đến bài đăng của Tổng thống Trump trên Truth Social. Khi được hỏi liệu họ có quản lý hoặc tham gia vào việc treo thưởng hay không và nguồn tài trợ sẽ đến từ đâu, Bộ Tư pháp trả lời Newsweek: "Chúng tôi giao quyền quyết định cho Tòa Bạch Ốc."
Bruce Spiva, phó chủ tịch cao cấp của Trung tâm Pháp lý Chiến dịch, đã lên án đề xuất này, nói với Newsweek: "Những nỗ lực trắng trợn như thế này làm xao nhãng công việc quan trọng mà các quan chức bầu cử trên khắp đất nước đang làm để bảo đảm các cuộc bầu cử của chúng ta được quản lý một cách tự do và công bằng. Đây chỉ là nỗ lực liều lĩnh mới nhất của chính quyền Trump nhằm gieo rắc hỗn loạn và nhầm lẫn, đồng thời lan truyền thông tin sai lệch về các cuộc bầu cử của chúng ta: Tổng thống đang cố tình đề nghị sử dụng một lượng lớn tiền thuế của người dân - với thẩm quyền đáng ngờ - để thúc đẩy chương trình nghị sự của chính quyền hiện tại, phơi bày nạn tham nhũng đã trở nên phổ biến. Các cuộc bầu cử của chúng ta an toàn và bảo mật, và ý tưởng về một chương trình ‘thưởng’ như thế này là không thể chấp nhận được."
Thông báo này được đưa ra tám ngày trước Ngày bầu cử và trong bối cảnh chính quyền Trump đang đẩy mạnh nỗ lực chống lại các cáo buộc gian lận bầu cử, bao gồm cả việc truy tố, điều tra và kiện tụng về tư cách cử tri và danh sách cử tri.
Điều này cũng diễn ra chưa đầy một tuần sau khi Tổng thống Trump và Phó Tổng thống JD Vance công bố một chương trình riêng trị giá 25 triệu đô la, hứa hẹn phần thưởng tài chính cho những người tố cáo gian lận liên quan đến các chương trình liên bang.
Chính quyền Trump mở rộng chiến dịch trấn áp gian lận bầu cử trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026.
Lời đề nghị được đưa ra trong bối cảnh một chiến dịch rộng lớn hơn của chính phủ liên bang nhằm chống lại cáo buộc gian lận bầu cử.
Ngày 20 tháng 10, Bộ Tư pháp cho biết họ đã buộc tội 113 người ở 20 tiểu bang về các tội danh bỏ phiếu bất hợp pháp và ghi danh bất hợp pháp trong bảy tuần trước đó. Các cáo buộc bao gồm người không phải công dân bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử liên bang, người dân khai man quốc tịch Mỹ trên các mẫu ghi danh và người dân bị cáo buộc bỏ phiếu nhiều hơn một lần.
Những trường hợp đó chỉ là cáo buộc chứ không phải là kết luận có tội.
Một trong những cuộc tranh chấp gay gắt nhất của chính quyền là cuộc tranh chấp với California về những cử tri mà các nhà chức trách liên bang cho rằng có thể không phải là công dân Hoa Kỳ.
Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã kiện bang California trong tháng này nhằm ngăn chặn việc kiểm đếm các lá phiếu liên quan đến hơn 20.000 người mà họ mô tả là "có khả năng" không phải công dân cho đến khi xác định được quốc tịch của họ. Các quan chức California đã bác bỏ tuyên bố của chính phủ và cho biết họ chưa nhận được đủ thông tin để xác minh danh sách này.
Tổng thống Trump cũng đe dọa sẽ bỏ tù các quan chức bầu cử ở tiểu bang nếu họ kiểm đếm phiếu bầu của những người bị chính quyền đánh dấu. Các chuyên gia pháp lý trước đó đã nói với Newsweek rằng các công tố viên cần bằng chứng cho thấy các quan chức đã cố ý và chủ đích tạo điều kiện cho việc bỏ phiếu bất hợp pháp, chứ không chỉ đơn giản là giải quyết một lá phiếu thuộc về người có tư cách hợp lệ bị tranh chấp.
Đồng thời, chính quyền đang theo đuổi các tiểu bang để được tiếp cận với hồ sơ ghi danh cử tri chi tiết. Đầu tháng này, một thẩm phán liên bang đã bác bỏ nỗ lực của Bộ Tư pháp nhằm có được danh sách cử tri toàn tiểu bang Georgia chưa được biên tập lại, đánh dấu thất bại thứ 26 liên tiếp của Bộ Tư pháp tại tòa án trong các vụ kiện tìm kiếm hồ sơ cử tri chi tiết từ các tiểu bang. Chính quyền đã kháng cáo trong nhiều vụ án.
Tổng thống Trump đã nhiều lần cáo buộc gian lận trong các cuộc bầu cử ở Mỹ và ủng hộ các yêu cầu khắt khe hơn về quốc tịch và giấy tờ tùy thân. Các chuyên gia bầu cử cho biết việc người không phải công dân bỏ phiếu có xảy ra nhưng rất hiếm, trong khi chính quyền lập luận rằng cần có sự thực thi và xác minh chặt chẽ hơn để bảo vệ tính toàn vẹn của cuộc bầu cử.
Những lời hứa chi tiêu tiền mặt khác của Tổng thống Trump trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ
Lời đề nghị 1 triệu đô la là động thái mới nhất trong một loạt các khoản tiền thưởng, khoản thanh toán và thông báo chi tiêu mà Tổng thống Trump đã đưa ra trong thời gian chuẩn bị cho cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ.
Chỉ sáu ngày trước đó, Tổng thống Trump và Vance đã công bố Chương trình Khuyến khích Người tố giác Gian lận trị giá 25 triệu đô la, gọi tắt là WHIP nhằm khuyến khích người dân Mỹ báo cáo các trường hợp gian lận bị nghi ngờ liên quan đến các chương trình liên bang.
Tổng thống Trump nói rằng những người tố giác có thể nhận được 1% số tiền gian lận mà họ phát hiện ra.
"Tất cả những người sẵn sàng làm điều đúng đắn và tố cáo kẻ xấu... họ sẽ trở nên giàu có," Tổng thống Trump nói trong thông báo ngày 20 tháng 10. "Khi bạn nhận được 1% của một tỷ đô la, 1% của một trăm tỷ đô la, đó sẽ là một khoản tiền khổng lồ."
Tuy nhiên, mô tả của tổng thống lại khác với các điều khoản được Bộ Tư pháp công bố về chương trình này, trong đó nêu rõ rằng phần thưởng thường dao động từ 10.000 đến 30.000 đô la cho thông tin đủ điều kiện dẫn đến các cáo buộc hình sự trong các loại gian lận được chỉ định.
Sau đó, Tổng thống Trump khẳng định không có giới hạn nào đối với khoản bồi thường cho người tố giác và cho biết ông sẽ đích thân làm trọng tài giải quyết các tranh chấp về phần thưởng. Tuy nhiên, các quy định được Bộ Tư pháp công bố lại nêu rõ rằng việc trao thưởng sẽ hoàn toàn tùy thuộc vào quyết định của bộ này.
Chính quyền cũng đã đưa ra một loạt các thông báo khác liên quan đến tiền mặt trong bối cảnh đảng Cộng hòa đang nỗ lực giữ vững quyền kiểm soát Quốc hội.
Tổng thống Trump đã ủng hộ việc phát séc 90 đô la để giúp người cao tuổi đóng phí bảo hiểm Medicare và khoản "hoàn trả" 500 đô la cho chương trình Obamacare, đồng thời hứa sẽ chi trả 5.000 đô la cho mỗi công dân trưởng thành nếu đảng Cộng hòa giữ được quyền kiểm soát cả Hạ viện và Thượng viện.
Ngày 19 tháng 10, Tổng thống Trump công bố một sáng kiến quan trọng khác: 8 tỷ đô la Mỹ dưới dạng khoản thanh toán "cứu trợ nhiên liệu" một lần cho nông dân đang gặp khó khăn do giá dầu diesel và các chi phí đầu vào khác tăng cao.
Những đề xuất đó được đưa ra trong bối cảnh khả năng chi trả và chi phí sinh hoạt vẫn là những mối quan ngại chính trị lớn trước thềm cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ.
Tổng thống Trump biến vấn đề gian lận bầu cử thành thông điệp cuối cùng trong chiến dịch tranh cử giữa nhiệm kỳ.
Khoản tiền thưởng 1 triệu đô la bổ sung thêm một yếu tố mới cho chiến dịch bảo đảm tính toàn vẹn của cuộc bầu cử, một chiến dịch ngày càng trở nên nổi bật trong thông điệp của chính quyền trong giai đoạn cuối của cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ.
Thông báo của Tổng thống Trump không nêu rõ bất kỳ nghi ngờ gian lận cụ thể nào hoặc cáo buộc hành vi sai trái nào trong một cuộc đua cụ thể năm 2026. Nó cũng không nêu rõ bằng chứng nào mà một người cần cung cấp để đủ điều kiện nhận tiền.
Cả Tòa Bạch Ốc và Bộ Tư pháp đều không cung cấp cho Newsweek thêm chi tiết nào về nguồn tài trợ, cơ chế hành chính hoặc quy trình để nhận khoản tiền 1 triệu đô la đã hứa.
Tuy nhiên, lời đề nghị này đã đặt ra một con số tiền tệ đáng chú ý cho nỗ lực cáo buộc gian lận bầu cử của Tổng thống Trump khi chỉ còn tám ngày nữa là cử tri đưa ra phán quyết của họ trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026.
Các phóng viên và biên tập viên của Newsweek đã sử dụng Martyn, trợ lý AI của chúng tôi, để thực hiện bài viết này. Tìm hiểu thêm về Martyn tại đây.
[Newsweek: Trump Offers $1M for Election Fraud Convictions Week Before Midterms]
11. Tổng thống Zelenskiy dự kiến các cuộc đàm phán hòa bình ba bên sẽ diễn ra tại Abu Dhabi trước ngày 10 tháng 11, nhưng chưa ấn định ngày cụ thể.
Tổng thống Volodymyr Zelenskiy cho biết vào ngày 28 tháng 10 rằng ông dự kiến các cuộc đàm phán hòa bình theo kế hoạch tại Abu Dhabi với Nga và Mỹ sẽ diễn ra vào giữa tháng 11, đồng thời nói thêm rằng Washington vẫn chưa xác nhận ngày cụ thể.
"Tôi hy vọng chúng ta cần tổ chức cuộc họp này trước cuối tháng tới... vào khoảng từ ngày 6 đến 10 tháng 11," Tổng thống Zelenskiy nói tại cuộc họp báo với Thủ tướng Hòa Lan Rob Jetten ở The Hague, đồng thời cho biết thêm địa điểm đàm phán vẫn có thể thay đổi tùy thuộc vào tình hình ở Trung Đông.
"Chúng tôi đang chờ phía Mỹ, tôi nghĩ họ sẽ sẵn sàng với tất cả các câu trả lời sau cuộc bầu cử." Tổng thống Zelenskiy dự đoán Mỹ sẽ xác nhận ngày bầu cử vào khoảng ngày 4 tháng 11, một ngày sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ của Mỹ.
Điện Cẩm Linh vẫn chưa xác nhận thời gian biểu cho các cuộc đàm phán.
Cuộc gặp dự kiến diễn ra sau nỗ lực mới của Mỹ nhằm khôi phục các cuộc đàm phán, vốn đã bị đình trệ khi Điện Cẩm Linh tiếp tục yêu cầu Kyiv nhượng lại Donbas, một khu vực chiến lược quan trọng ở miền đông Ukraine.
[Kyiv Independent: Zelensky expects trilateral peace talks in Abu Dhabi by Nov. 10, but no firm date set]
12. Bộ trưởng Quốc phòng Israel chỉ trích lời kêu gọi của Eisenkot về việc quân đội chống lại áp lực của Netanyahu.
Hôm thứ Tư, Bộ trưởng Quốc phòng Israel đã lên án ứng cử viên đối lập Gadi Eisenkot vì đã kêu gọi quân đội chống lại áp lực hậu bầu cử từ Thủ tướng Benjamin Netanyahu, người đã đe dọa sẽ tiến hành các cuộc tấn công mới vào Iran.
Israel Katz nói: "Việc ông ta kêu gọi các quan chức quân sự cao cấp không tuân theo chỉ thị của thủ tướng, của tôi hoặc của các cơ quan an ninh có liên quan khác, với lý do ‘họ được ông ta ủng hộ’, là một tuyên bố phản dân chủ, xa rời thực tế."
Eisenkot, một cựu tư lệnh quân đội, đã phát biểu trước những người ủng hộ sau cuộc bầu cử hôm thứ Ba rằng Netanyahu chỉ là thủ tướng lâm thời, thiếu quyền lực và quân đội nên phục vụ nhà nước chứ không phải thủ tướng.
"Hãy kiên định trước mọi nỗ lực thách thức ông. Ông có sự ủng hộ tuyệt đối của tôi. Netanyahu, đừng dại dột lợi dụng an ninh của Israel cho mục đích chính trị của ông", Eisenkot nói.
Trong những ngày gần đây, ông Netanyahu đã nhiều lần đe dọa sẽ nối lại các cuộc tấn công vào Iran.
Các báo cáo truyền thông, bị Netanyahu phủ nhận, cho biết Tư lệnh quân đội, Trung tướng Eyal Zamir, đã phản đối ngay trước cuộc bầu cử về kế hoạch mới của thủ tướng đối với Iran.
Theo Katz, những phát ngôn của Eisenkot là diễn biến mới nhất trong "chiến dịch dối trá" về căng thẳng giữa Netanyahu và quân đội liên quan đến Iran.
[CBSNews: Israeli defense minister slams Eisenkot's call for military to resist Netanyahu's pressure]
13. Hòa Lan công bố gói viện trợ quân sự 500 triệu euro cho Ukraine.
Tổng thống Zelenskiy cho biết sau chuyến thăm The Hague ngày 28 tháng 10 rằng Hòa Lan sẽ cung cấp cho Ukraine gói viện trợ quân sự mới trị giá 500 triệu euro hay 557 triệu đô la.
"Cảm ơn gói hỗ trợ quân sự mới trị giá 500 triệu euro dành cho Ukraine, hiện đang được chuẩn bị – vào mùa thu này", Tổng thống Zelenskiy nói sau cuộc gặp với Thủ tướng Hòa Lan Rob Jetten.
"Điều này thực sự có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là trong việc đẩy lùi các cuộc tấn công đường không của Nga."
Hai nhà lãnh đạo cũng thảo luận về tiến trình hòa bình do Mỹ làm trung gian trước thềm cuộc đàm phán ba bên dự kiến diễn ra tại Abu Dhabi, hợp tác trong lĩnh vực năng lượng và quốc phòng, cũng như dự án phòng không Bliksem, một nỗ lực toàn Âu Châu nhằm chế tạo hỏa tiễn đánh chặn ngoài khí quyển chống lại hỏa tiễn đạn đạo tầm trung và tầm xa.
Thông tin này được đưa ra sau chuyến thăm Kyiv của một bộ trưởng Hòa Lan, nơi bộ trưởng thương mại nước này đã công bố gói viện trợ phi quân sự trị giá 1,2 tỷ euro (khoảng 1,3 tỷ đô la) cho Ukraine, sẽ được giải ngân trong ba năm tới và hướng đến việc phục hồi kinh tế của đất nước.
[Kyiv Independent: Netherlands announces 500 million euro military aid package for Ukraine]
14. Ngoại trưởng Iran cho biết nước này vẫn đang xem xét các ý tưởng về một thỏa thuận hòa bình.
Giữa lúc có thông tin cho rằng Iran đã bác bỏ đề xuất hòa bình mới nhất từ các trung gian hòa giải Qatar, Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi đã đăng tải trên X rằng nước ông vẫn đang xem xét các ý tưởng về một giải pháp ngoại giao cho cuộc chiến kéo dài tám tháng.
Ông Araghchi viết: "Trong khi Quân đội dũng cảm của chúng tôi hoàn toàn sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, Iran vẫn tiếp tục tạo cơ hội cho ngoại giao thành công. Chúng tôi vẫn duy trì liên lạc chặt chẽ và thường xuyên với các bên trung gian để xem xét các ý tưởng có thể bảo đảm việc thực hiện Kế hoạch 7 ngày của chúng tôi trong thời gian chưa đầy một tuần."
Kế hoạch bảy ngày đã được trình bày với Mỹ ngay sau Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc vào tháng 9. Tuy nhiên, Tổng thống Trump đã bác bỏ ý tưởng của Iran về một lệnh ngừng bắn bảy ngày và sau đó là việc mở cửa trở lại eo biển Hormuz theo từng giai đoạn.
Trước đó vào thứ Tư, một quan chức cao cấp của Iran đã phủ nhận việc Qatar đưa ra đề xuất hòa bình mới cho Tehran hôm Chúa Nhật, thay vào đó nói rằng Qatar chỉ đưa ra những ý tưởng "không thể chấp nhận được", theo Reuters đưa tin.
Theo Reuters, một nguồn tin trước đó cho biết có những lo ngại rằng Israel có thể bắt đầu một chiến dịch ném bom mới sau cuộc bầu cử.
[CBSNews: Iran continues to review ideas for peace agreement, foreign minister says]
Jordan bắt được bọn khủng bố liên quan đến vụ thảm sát nhà thờ. Nghĩa vụ cầu nguyện cho người quá cố
VietCatholic Media
15:19 30/10/2026
1. Lực lượng an ninh Jordan bắt giữ 3 người đàn ông liên quan đến vụ tấn công nhà thờ gây chết người hồi tuần trước.
Lực lượng an ninh Jordan đã bắt giữ ba người đàn ông hôm thứ Hai vì vụ tấn công vào một nhà thờ Chính thống giáo Hy Lạp khiến 9 người thiệt mạng và hơn 20 người bị thương hồi tuần trước. Vụ bắt giữ diễn ra sau một cuộc đấu súng và cả ba người đàn ông đều bị thương, các quan chức cho biết.
Cơ quan An ninh Công cộng cho biết không có thành viên nào của lực lượng Jordan bị thương trong vụ đấu súng rạng sáng ở Karak, phía nam thủ đô Amman của Jordan.
Vụ tấn công hôm thứ Sáu tại Karak, nơi có cộng đồng thiểu số theo đạo Kitô sinh sống, đã nhắm vào nhà thờ Chính thống Hy Lạp trong một buổi lễ tang. Có ba người đàn ông được tường trình đã tham gia vào vụ tấn công.
Hiện chưa có tổ chức nào nhận trách nhiệm và chưa có nhóm vũ trang nào bị cáo buộc gây ra vụ tấn công.
Bộ trưởng Nội vụ Jordan, Mazen Al-Faraya, đã xác định ba người đàn ông này là những kẻ chịu trách nhiệm cho vụ tấn công.
"Lực lượng an ninh đã hoàn thành nhiệm vụ của mình, dẫn đến việc bắt giữ những kẻ thực hiện hành vi khủng bố này", ông nói trong cuộc phỏng vấn qua điện thoại với đài truyền hình nhà nước Al-Mamlaka. "Chúng đã chống cự quyết liệt với lực lượng an ninh, nhưng cuối cùng đã bị khống chế và bắt giữ, trong tình trạng bị thương nặng."
Ông nói thêm rằng "có ba cá nhân liên quan; họ đã được xác định ngay từ đầu sau vụ khủng bố, và các cơ quan an ninh đã sử dụng mọi biện pháp có thể để bắt giữ họ."
Vua Abdullah II đã ra lệnh cho chính quyền phải đáp trả bằng "bàn tay sắt" đối với những kẻ mà ông gọi là những kẻ ngoài vòng pháp luật của đạo Hồi và bất cứ ai âm mưu phá hoại sự đoàn kết của người dân Jordan.
"Chúng tôi thề rằng bọn khủng bố sẽ không thoát khỏi sự trừng phạt, và sẽ không dung thứ cho bất kỳ kẻ nào cổ vũ những tư tưởng đen tối gây chia rẽ người dân Jordan", ông nói trong một tuyên bố hôm thứ Hai.
Người thân của các nạn nhân cho biết việc bắt giữ các nạn nhân đã mang lại cho họ phần nào sự an tâm.
"Mặc dù đây là một thảm kịch sâu sắc và to lớn, nhưng những gì xảy ra hôm nay đã phần nào xoa dịu nỗi đau của chúng tôi - và nỗi đau của người dân Jordan - không chỉ riêng chúng tôi, mà còn cả gia đình các liệt sĩ," Khaled al-Borqan, một người sống sót sau vụ tấn công và là họ hàng của ba người thiệt mạng, nói với Al-Mamlaka.
" Mặc dù buồn bã và đau đớn, nhưng tin tức này đã mang lại cho chúng tôi niềm vui", Fares Halaseh, chú của một trong những nạn nhân và là người sống sót sau vụ tấn công, nói với đài truyền hình.
Nhưng nỗi đau vẫn còn đó, ông nói thêm. "Chúng tôi sẽ không quên nỗi đau đớn này trong nhiều năm tới."
Source:CRUXNOW
2. Tại sao chúng ta sợ chết, phân tích của Đức Bênêđíctô thứ 16
Nhân tháng các linh hồn, chúng tôi xin giới thiệu với quý vị và anh chị em một phân tích rất sâu sắc của Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16 nhân ngày lễ các đẳng linh hồn 2 tháng 11, 2011.
Trong bài huấn dụ tại Đại Thính Đường Phaolô Đệ Lục, ngài đã gợi lên vài tư tưởng liên quan tới cái chết và cuộc sống mai sau. Ngài phân tích những lý do chúng ta sợ chết và nhấn mạnh rằng đối với các tín hữu Kitô cái chết phải được soi sáng bởi sự phục sinh của Chúa Kitô, và ngày lễ kính các đẳng linh hồn phải là dịp để họ canh tân niềm tin nơi cuộc sống vĩnh cửu.
Đức Bênêđíctô thứ 16 nói:
Trong thế giới bị tục hóa của chúng ta, đức tin dường như khó lý giải được. Chúng ta đối diện với một chủ nghĩa vô thần "thực tiễn". Đó là một xu hướng nghĩ và sống như thể Thiên Chúa không hề hiện hữu. Tuy nhiên, một khi chúng ta loại bỏ Thiên Chúa khỏi cuộc sống của mình, chúng ta bị giản lược lại vì nhân phẩm cao nhất của chúng ta hệ tại nơi việc được tạo thành bởi Thiên Chúa và được mời gọi sống hiệp thông với Ngài.
Trong tư cách là các tín hữu, chúng ta cần trao ra các lý do thật thuyết phục cho đức tin và niềm hy vọng của chúng ta. Chúng ta có thể tìm thấy những lý do như thế trong chính trật tự và vẻ đẹp của tự nhiên, là điều nói lên Đấng Tạo Hóa của nó; và trong lòng khao khát sự hiện diện đời đời, là điều chỉ tìm được sự thỏa mãn trong Chúa mà thôi; cũng như trong đức tin là điều soi sáng và chuyển hóa cuộc sống chúng ta qua sự kết hiệp hàng ngày với Thiên Chúa.
Ngài nói tiếp rằng:
Cái chết thường là một đề tài cấm kỵ trong xã hội của chúng ta, và người ta thường liên tục cố ý lấy khỏi tâm trí chúng ta ý tưởng về cái chết. Nhưng, cái chết liên quan tới từng người trong chúng ta, liên quan tới con người thuộc mọi thời đại và mọi nơi chốn. Chính trước mầu nhiệm ấy chúng ta tất cả tìm kiếm một cái gì đó mời gọi chúng ta hy vọng, cả khi một cách vô thức, một dấu hiệu trao ban ủi an cho chúng ta, mở ra mở một chân trời nào đó, cống hiến một tương lai nào đó. Thật ra, con đường của cái chết là một con đường của niềm hy vọng, và bước đi trong các nghĩa trang cũng như đọc những gì viết trên các nấm mồ là bước đi trên một con đường được ghi dấu bởi niềm hy vọng của sự vĩnh cửu. Thế nhưng tại sao chúng ta lại cảm thấy sợ hãi trước cái chết?
Có nhiều câu trả lời: chúng ta sợ hãi trước cái chết, bởi vì chúng ta sợ hãi sự hư vô, sợ hãi cuộc ra đi về một cái gì mà chúng ta không hiểu và không quen hiết. Và khi đó trong chúng ta có ý thức khước từ, bởi vì chúng ta không thể chấp nhận rằng những gì là xinh đẹp và cao cả đã được thực hiện trong toàn cuộc sống bất thình lình bị xóa bỏ và rơi vào vực thẳm hư không. Nhất là chúng ta cảm thấy rằng tình yêu nhắc tới và đòi hỏi sự vĩnh cửu, và chúng ta không thể chấp nhận rằng nó bị hủy diệt bởi cái chết trong một chốc lát.
Ngày nay bề ngoài, xem ra thế giới đã trở thành lý sự hơn, hay đúng hơn có khuynh hướng phổ biến cho rằng mọi thực tại đều phải được soi sáng dưới các tiêu chuẩn của khoa học thực nghiệm; và kể cả cái chết cũng phải được soi sáng không phải bằng đức tin nhưng từ các hiểu biết thực nghiệm.
Anh chị thân mến, lễ Các Thánh và lễ Tưởng niệm mọi tín hữu đã qua đời nói với chúng ta rằng chỉ có những ai thừa nhận một niềm hy vọng lớn lao trong cái chết, mới có thể sống một cuộc sống bắt đầu bằng sự hy vọng. Nếu chúng ta chỉ giản lược con người vào chiều kích hàng ngang, vào điều chúng ta có thể trực giác được một cách cảm nghiệm, thì chính cuộc sống sẽ mất đi ý nghĩa sâu xa của nó. Con người cần sự vĩnh cửu, và mỗi một niềm hy vọng khác đối với nó đều qúa ngắn ngủi, đều qúa hạn hẹp... Chỉ có thể giải thích được con người, nếu có một Tình Yêu vượt ngoài mọi sự cô đơn, kể cả sự cô đơn của cái chết, trong một sự toàn vẹn vượt ngoài không gian và thời gian. Con người chỉ có thể giải thích được và tìm thấy ý nghĩa sâu thẳm của nó, nếu có Thiên Chúa. Và chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã ra khỏi sự xa cách của Người để đến gần chúng ta; Người đã bước vào cuộc sống chúng ta và nói với chúng ta rằng: "Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin nơi Ta cả khi chết cũng sẽ sống; ai sống và tin nơi Ta sẽ không phải chết đời đời" (Ga 11,25-26).
Chúng ta hãy nghĩ tới cảnh trên Núi Sọ và nghe lại các lời Chúa Giêsu, từ trên Thập Giá, nói với người tội phạm bị đóng đanh bên phải Người: "Tôi bảo thật anh: hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng" (Lc 23,43). Chúng ta hãy nghĩ tới các môn đệ trên đường về làng Emmaus, sau khi đi một đoạn đường dài với Chúa Giêsu phục sinh, họ nhận ra Người và mau mắn trở về Giêrusalem để loan báo sự Phục Sinh của Chúa (x. Lc 24,13-35). Trong tâm trí họ vang vọng rõ ràng lời của Thầy: "Các con đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ; nếu không Thầy đã không bao giờ nói với các con: "Thầy đi dọn chỗ cho các con" (Ga 14,1-2).
Thiên Chúa đã thực sự tỏ hiện ra và có thể đạt tới được; Người đã yêu thương thế gian "đến độ ban Con Một mình, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời" (Ga 3,16). Và trong cử chỉ tuyệt đỉnh của tình yêu của Thập Giá, bằng cách dìm mình trong vực thẳm của sự chết, Người đã thắng cái chết và sống lại Người cũng đã mở cho chúng ta cánh cửa của sự vĩnh cửu. Chúa Kitô nâng đỡ chúng ta vượt qua đêm đen của cái chết mà chính Người đã đi qua; Người là Mục Tử, và chúng ta có thể tin cậy nơi sự dẫn dắt của Người mà không sợ hãi, bởi vì Người biết rõ đường đi, cả khi có phải qua tăm tối.
Mỗi Chúa Nhật khi đọc kinh Tin Kính, chúng ta tái khẳng định chân lý này. Và khi đến thăm các nghĩa trang để cầu nguyện cho những người đã chết với lòng yêu thương trìu mến, một lần nữa chúng ta được mời gọi can đảm mạnh mẽ canh tân niềm tin của chúng ta nơi cuộc sống vĩnh cửu, còn hơn thế nữa chúng ta được mời gọi sống với niềm hy vọng cao cả và làm chứng cho niềm hy vọng đó trước thế giới: đàng sau hiện tại không có sự hư vô. Và chính niềm tin nơi cuộc sống vĩnh cửu trao ban cho kitô hữu sự can đảm yêu thương trái đất này một cách mạnh mẽ hơn nữa, và làm việc để xây dựng một tương lai, và trao ban cho trái đất một niềm hy vọng chắc chắn, đích thật.
3. Cầu nguyện cho người chết là công việc thiêng liêng ngọt ngào nhất của lòng thương xót
Cha Roger J. Landry là một linh mục trong Phái bộ Quan sát viên Thường trực của Tòa Thánh tại Liên Hợp Quốc ở New York. Ngài nguyên là linh mục của Giáo phận Fall River, Massachusetts, và từng là cha chính xứ của Giáo xứ St. Bernadette ở Fall River, Massachusetts, và trước đó là chính xứ St. Anthony Padua ở New Bedford, Massachusetts. Hiện nay, ngài là giám đốc quốc gia của Hội Truyền giáo Giáo hoàng Hoa Kỳ
Sau khi tốt nghiệp cử nhân sinh học tại Đại học Harvard, ngài đã theo đuổi con đường tiến đến chức tư tế ở Maryland, Toronto và Rôma. Sau khi được Đức Cha Sean O'Malley, OFM Cap (nay là Hồng Y) truyền chức linh mục tại Giáo phận Fall River vào ngày 26 tháng 6 năm 1999, ngài trở lại Rôma để hoàn thành chương trình sau đại học về Thần học luân lý và đạo đức sinh học tại Viện Hôn nhân và Gia đình Gioan Phaolô II.
Cha Landry cũng là một nhà văn. Ngài viết cho nhiều tờ báo Công Giáo, bao gồm National Catholic Register và The Anchor, là tờ báo hàng tuần của Giáo phận Fall River, mà ngài là chủ nhiệm kiêm chủ bút từ năm 2005 đến 2012. Một trong những cuốn sách nổi tiếng của ngài là cuốn "Plan of Life: Habits to Help You Grow Closer to God" – "Kế hoạch cho cuộc sống: Những thói quen giúp bạn đến gần Chúa hơn" (Pauline Books and Media 2018).
Ngài vừa có bài viết nhan đề "Praying for the Dead: Sweetest of the Spiritual Works of Mercy", nghĩa là "Cầu nguyện cho người chết là công việc thiêng liêng ngọt ngào nhất của lòng thương xót"
Trong suốt tháng 11, người Công Giáo đặc biệt dành thời gian để thực hiện công việc thương xót thiêng liêng ngọt ngào nhất, đó là cầu nguyện cho những người thân yêu đã khuất.
Dĩ nhiên, chúng ta làm như vậy vào ngày 2 tháng 11, Lễ Tưởng Niệm Các Tín Hữu Đã Qua Đời hay còn được gọi vắn tắt là Lễ Các Đẳng Linh Hồn, năm nay may mắn rơi vào Chúa Nhật. Tuy nhiên, Giáo Hội tưởng nhớ những người thân yêu đã khuất của chúng ta không chỉ vào ngày này, mà còn cầu nguyện cho họ trong suốt cả năm — và đặc biệt sốt sắng vào tháng 11.
Chúng ta cầu nguyện cho người chết vì chúng ta biết trong đức tin ba sự thật: Thứ nhất, trái ngược với giả định phổ biến — và nguy hiểm — rằng mọi người chết đều tự động đến một "nơi tốt đẹp hơn", đức tin Công Giáo không tin rằng mọi người chết đều lên thiên đàng, đặc biệt là ngay lập tức; thứ hai, người chết có thể cần sự giúp đỡ của chúng ta; và thứ ba, lời cầu nguyện và sự hy sinh của chúng ta thực sự có thể giúp đỡ họ.
Về hai chân lý đầu tiên, Giáo hội dạy rằng để vào thiên đàng, người ta phải hoàn toàn gắn bó với Thiên Chúa và hoàn toàn tách biệt khỏi tội lỗi và mọi thứ không thuộc về Thiên Chúa. Sách Khải Huyền khẳng định: "Không có gì ô uế được vào thiên đàng" (21:27).
Nhiều người không sống và chết với sự thánh thiện tinh tuyền của cuộc sống, và do đó họ cần được thanh tẩy để bước vào Vương quốc, nơi Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự. Trạng thái mà người chết được thanh tẩy khỏi mọi tội lỗi và thế gian này theo truyền thống được Giáo hội gọi là "luyện ngục", bắt nguồn từ thuật ngữ La-tinh purgare, có nghĩa là "làm sạch".
Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16, trong thông điệp về niềm hy vọng Kitô giáo, đã khẳng định rằng "đại đa số" con người chết đi trong sự cần thiết được thanh tẩy như vậy và do đó phải vào luyện ngục. Với niềm hy vọng, chúng ta cầu nguyện cho họ, bởi vì trong đức tin, chúng ta tin rằng lời cầu nguyện của chúng ta thực sự có thể giúp họ trong quá trình thanh tẩy này.
Trong Sách Maccabêô quyển thứ hai, được viết khoảng 140 năm trước khi Chúa Kitô ra đời, chúng ta thấy rằng người Do Thái đã dâng lễ vật trong Đền thờ để cầu nguyện cho những người lính Do Thái đã tử trận, những người đã phản bội Chúa bằng cách mang dưới áo mình nhiều thần tượng khác nhau bắt được từ kẻ thù ngoại giáo của họ.
"Cầu nguyện cho người chết là một ý nghĩ thánh thiện và lành mạnh, để họ được giải thoát khỏi tội lỗi của mình". Tiếp nối truyền thống của những người Do Thái trung thành, Giáo hội cũng cầu nguyện cho mọi người được tẩy sạch khỏi tội nhẹ.
Chúng ta không bao giờ biết liệu những người thân yêu đã khuất của chúng ta có đang che giấu tội lỗi nào đó vì sợ hãi hay yếu đuối hay không, và chúng ta có thể làm một điều gì đó quý giá hơn nhiều cho họ so với những gì mà những người Maccabê thời xưa đã làm. Chúng ta có thể cầu nguyện cho họ trong Thánh lễ.
Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo dạy chúng ta rằng: "Ngay từ đầu, Giáo hội đã tôn kính việc tưởng nhớ những người đã khuất và dâng lời cầu nguyện cho họ, đặc biệt là hy lễ Thánh Thể, để nhờ được thanh tẩy, họ có thể đạt được hạnh phúc được hưởng nhan Thiên Chúa" (1032).
Không có lời cầu nguyện nào cao cả hơn mà chúng ta có thể dâng cho người chết hơn là Thánh lễ, trong đó chúng ta kết hợp những lời cầu xin cá nhân của mình với hy lễ cứu độ của Chúa Kitô được dâng một lần và mãi mãi trong Bữa Tiệc Ly và trên thập giá.
"Truyền thống Giáo hội luôn thúc giục cầu nguyện cho người đã khuất, đặc biệt bằng cách cử hành bt2 Thánh Thể cho họ," Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói trong bài suy niệm Kinh Truyền Tin nhân Ngày Lễ Các Đẳng Linh Hồn năm 2014. "Đó là sự trợ giúp thiêng liêng tốt nhất mà chúng ta có thể dành cho linh hồn họ, đặc biệt là những linh hồn bị bỏ rơi nhất. Nền tảng của lời cầu nguyện cho các linh hồn nằm ở sự hiệp thông với Nhiệm Thể," và sự hiệp thông đó được diễn tả mạnh mẽ nhất trong Thánh Lễ.
Giáo hội đã tôn kính việc thực hành cầu nguyện cho người chết trong Thánh lễ qua nhiều thế kỷ. Trong các kinh nguyện Thánh Thể, chúng ta cầu bầu cho tất cả những người "đã ra đi trước chúng ta với dấu chỉ đức tin" (Kinh nguyện Thánh Thể I), "những người đã an nghỉ trong niềm hy vọng phục sinh và tất cả những người đã chết trong lòng thương xót của Chúa, (Kinh nguyện Thánh Thể II), "những người đẹp lòng Chúa khi họ qua đời" (Kinh nguyện Thánh Thể III), và cho "những người mà chỉ mình Chúa biếtlòng tin của họ" (Kinh nguyện Thánh Thể IV).
Đặc biệt, trong hơn một ngàn năm qua, người Công Giáo cũng đã yêu cầu các linh mục dâng lễ cầu cho linh hồn của những người đã khuất được an nghỉ vĩnh hằng.
Điều quan trọng là phải hiểu về mặt thần học những gì liên quan đến việc dâng hiến thực hành này. Bởi vì hy tế Thánh Lễ là sự tái hiện lời cầu nguyện cứu độ của Chúa Kitô từ Phòng Tiệc Ly và Đồi Canvê, chúng ta biết rằng hoa trái của nó mang lại lợi ích cho toàn thể Giáo hội trên toàn thế giới.
Cũng có những ân sủng đặc biệt dành cho những người hiện diện và tham dự Thánh lễ, trái ngược với những người không tham dự. Tuy nhiên, cũng có một hoa trái thừa tác hoặc cá nhân của Thánh lễ mà linh mục có thể tìm cách áp dụng cho một người hoặc một mục đích cụ thể, chẳng hạn như ý nguyện mà một tín hữu thành tâm cầu xin linh mục dâng Thánh lễ với ý nguyện đó.
Theo thông lệ, một tín hữu thường tự nguyện dâng một món quà cho linh mục cử hành Thánh lễ theo ý chỉ đó. Điều này thường được gọi là "tiền dâng lễ". Qua nhiều thế kỷ, lễ vật này được hiểu là một khoản bố thí dâng lên linh mục để cảm ơn vì ngài đã cam kết cầu nguyện cho ý chỉ cụ thể đó thay vì những ý chỉ khác. Thông thường, số tiền nhỏ — ngày nay ở Hoa Kỳ, thông thường là 10 đô la — đây thường là khoản thu nhập tài chính duy nhất mà một linh mục có thể nhận được để trang trải cuộc sống và chăm sóc người nghèo được giao phó cho ngài.
Ngày nay, tại nhiều giáo phận và vùng truyền giáo, đây vẫn là nguồn thu nhập duy nhất mà một linh mục nhận được, nếu ngài may mắn nhận được những khoản dâng cúng như vậy, thường là từ nước ngoài. Các giám mục tại các vùng truyền giáo thường phải đóng vai trò của những người hành khất, xin tiền lễ để hỗ trợ hàng giáo sĩ của mình từ các văn phòng quốc gia và giáo phận của Hội Truyền giáo Giáo hoàng hoặc Tổ chức Hỗ trợ Giáo hội Đau khổ, hoặc các cơ quan giáo hoàng toàn cầu đáng tin cậy khác.
Là giám đốc quốc gia của Hội Truyền giáo Giáo hoàng Hoa Kỳ, tôi nhận được vài email mỗi tuần từ các giám mục ở các vùng truyền giáo hỏi liệu tôi có thể gửi cho họ những lễ vật như vậy không. Do số lượng yêu cầu quá lớn, tôi thường gửi 500 hoặc 1.000 lễ mỗi lần, điều mà các giám mục rất biết ơn, nhưng khi họ có hàng trăm linh mục mà họ đang cố gắng chăm sóc, thì mỗi linh mục chỉ được vài lễ. Một giám mục Phi Châu nói với tôi rằng ngài có gần 800 linh mục giáo phận trong giáo phận truyền giáo rộng lớn của mình tại một trong những quốc gia nghèo nhất hành tinh. Tôi đã gửi cho ngài 5.000 lễ, nhưng điều đó có nghĩa là mỗi linh mục trong giáo phận của ngài chỉ nhận được số lễ vật đủ dùng trong một tuần.
Tôi nhớ đã nói chuyện với một vị Hồng Y ở vùng biên giới truyền giáo về việc các linh mục của ngài chỉ sống nhờ vào trợ cấp Thánh lễ. Ngài nói với tôi: "Thưa Đức Cha, tôi cũng vậy." Tôi hỏi: "Ngài sống bằng khoảng 3.650 đô la một năm à?" Ngài cười và nói: "Tôi được trợ cấp Thánh lễ bằng euro, nên gần 4.000 đô la. Nhưng phần lớn số tiền đó được dùng để chăm sóc một số gia đình nghèo ở thủ đô, để hỗ trợ giáo lý viên và nhân viên, cùng những khoản tương tự. Tôi cố gắng sống bằng khoảng 500 đến 600 đô la một năm."
Việc các linh mục, giám mục và Hồng Y có mặt tại các giáo xứ truyền giáo để cử hành Thánh lễ thường là một sự hỗ trợ to lớn cho các giáo xứ năng động ở Mỹ, nơi mà giáo xứ không có nhiều Thánh lễ Chúa Nhật và Thánh lễ thường ngày để đáp ứng nhu cầu của giáo dân xin dâng lễ cầu nguyện cho người thân đã khuất, và thời gian chờ đợi Thánh lễ được thông báo thường có thể kéo dài cả năm hoặc hơn. Do đó, các cha xứ, giám mục và nhiều tín hữu hướng về các giáo xứ truyền giáo, ý thức rằng Thánh lễ cũng có giá trị không kém đối với người thân của họ khi được cử hành bởi một linh mục tại một cứ điểm truyền giáo trong rừng rậm.
Giáo dân có thể yêu cầu các Thánh lễ (tại PontificalMissions.org) được cử hành trực tiếp bởi các linh mục truyền giáo, có thể là Thánh lễ riêng, hoặc tuần cửu nhật, hoặc thậm chí là Thánh lễ Grêgôriô, đây là một truyền thống có từ thời Đức Giáo Hoàng Thánh Grêgôriô Cả, người đã sắp xếp để cử hành Thánh lễ trong 30 ngày liên tiếp cho một tu sĩ đã qua đời, tên là Justus, từ tu viện mà Grêgôriô đã thành lập ở Rôma. Justus bị phát hiện sau khi chết là đã phạm tội đáng xấu hổ chống lại luật nghèo khó. Vào cuối 30 Thánh lễ liên tiếp hàng ngày, Justus đã hiện ra trong giấc mơ với một tu sĩ bạn, thông báo rằng ông đã được thương xót thanh tẩy tội lỗi của mình và đã bước vào niềm vui vĩnh cửu với Chúa. Thực tế là các linh mục giáo xứ ở Hoa Kỳ không thể cử hành các Thánh lễ Grêgôriô như vậy trong 30 ngày liên tiếp, nhưng các linh mục trong các phái bộ truyền giáo có thể và rất biết ơn khi được nhận chúng.
Tháng này, khi Giáo hội tập trung nhiều hơn vào việc cầu nguyện cho những người thân yêu đã khuất, đây là cơ hội để tiếp tục tập trung vào Tháng Truyền giáo Thế giới và với tinh thần đoàn kết, kêu gọi sự giúp đỡ của các linh mục đang làm việc chăm chỉ tại các vùng truyền giáo để hỗ trợ các hành động tận tụy và chăm sóc liên tục cho những người thân yêu của chúng ta sau khi qua đời.
Source:National Catholic Register
4. Hướng dẫn thực hành để nhận được Ơn Toàn Xá trong tháng các linh hồn
Trong tháng 11, Giáo Hội rộng ban các Ơn Toàn Xá cho chúng ta để nhường cho các linh hồn. Đây là thời thuận tiện để chúng ta giúp các bậc cha mẹ, ông bà, thân bằng quyến thuộc đã ra đi trước chúng ta. Xin anh chị em bớt chút thời gian làm các việc đạo đức sau để nhận được Ơn Toàn Xá nhường cho các linh hồn, theo chỉ dẫn của Tòa Ân Giải Tối Cao.
Đầu tiên, Tòa Ân Giải Tối Cao nhắc lại các điều kiện luật định để được ơn toàn xá là xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha và từ bỏ mọi quyến luyến đối với tội lỗi. Bước đầu tiên, và quan trọng nhất, là quý vị và anh chị em phải dốc lòng từ bỏ mọi quyến luyến đối với tội lỗi. Ngay khi có thể, xin đi xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha. Việc đi xưng tội chỉ cần làm một lần, miễn là, chúng ta từ bỏ mọi quyến luyến đối với tội lỗi, không phạm bất cứ tội nào, dù là tội nhẹ. Nhưng việc rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha phải được thực hiện mỗi lần chúng ta muốn nhận được Ơn Toàn Xá, trừ khi có những ngăn trở chính đáng.
Bước thứ hai, là anh chị em làm một trong các phương cách sau:
Cách thứ nhất:
Sách Cẩm nang Ơn Xá quy định anh chị em viếng nghĩa trang từ ngày 1 đến ngày 8 tháng 11. Tuy nhiên, ở một số địa phương có thể có những quy định tránh tập trung đông người, trong các trường hợp như thế, Tòa Ân Giải Tối Cao cho phép viếng nghĩa trang trong suốt tháng 11.
Cách thứ hai:
Viếng nhà thờ, hay nhà nguyện cũng được trong ngày lễ các linh hồn, hay trong ngày lễ các Thánh, và đọc một Kinh Lạy Cha và một Kinh Tin Kính. Nếu vì những ngăn trở chính đáng không thể viếng nhà thờ hay nhà nguyện trong 2 ngày nêu trên thì có thể viếng bất cứ ngày nào trong tháng 11.
Cách thứ ba:
Những người già, người bệnh và tất cả những người vì lý do nghiêm trọng không thể rời khỏi nhà mình, hay do những hạn chế được áp đặt bởi các cơ quan có thẩm quyền nhằm tránh việc tụ tập đông đảo các tín hữu ở những nơi linh thiêng, anh chị em vẫn nhận được Ơn Toàn Xá nếu hiệp nhất về mặt tinh thần với tất cả các tín hữu khác. Cụ thể, anh chị em cầu nguyện trước tượng ảnh Chúa Giêsu, Đức Trinh Nữ Maria, đọc những kinh nguyện sốt sắng dành cho người chết, ví dụ như Kinh Sáng và Kinh Chiều từ Sách Thần Vụ dành cho người quá cố, hay lần Chuỗi Mân Côi, hay đọc Kinh Lòng Chúa Thương Xót, hay những kinh nguyện khác cho những người đã qua đời, hay dành thời gian để suy gẫm một trong những đoạn Phúc âm được đề nghị trong Phụng vụ dành Người Quá Cố, hoặc thực hiện công việc của lòng thương xót, dâng lên Chúa những nỗi đau và những khó khăn của cuộc đời mình.
Source:Catholic World News