Tiến sĩ George Weigel là thành viên cao cấp của Trung tâm Đạo đức và Chính sách Công cộng Washington, và là người viết tiểu sử Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ông vừa có bài viết nhan đề “John Paul II and America”, nghĩa là “Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và nước Mỹ”. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.

Khi được bầu làm giám mục Roma vào ngày 16 tháng 10 năm 1978, Đức Hồng Y Karol Wojtyła có kinh nghiệm khá hạn chế về Giáo Hội Công Giáo tại Hoa Kỳ. Ngài đã gặp gỡ các giáo sĩ người Mỹ tại Công đồng Vatican II, và một vài người trong số họ đã đến thăm Ba Lan trong những năm tiếp theo. Hồng Y người Krakow đã có hai chuyến thăm Hoa Kỳ, một chuyến vào dịp kỷ niệm 200 năm thành lập quốc gia năm 1976, nhưng phần lớn thời gian trong các chuyến đi này ngài dành cho cộng đồng người Mỹ gốc Ba Lan. Vì vậy, có lẽ có thể nói rằng Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bắt đầu triều đại của mình với ấn tượng về Công Giáo Mỹ không khác biệt lắm so với các trí thức Âu Châu khác: đó là Giáo hội Hoa Kỳ có một mạng lưới các thể chế đáng ghen tị—từ các giáo xứ đến các cơ sở chăm sóc sức khỏe và dịch vụ xã hội, trường học, cao đẳng và đại học—nhưng Giáo hội giàu có hơn là có văn hóa và sống quá thoải mái trong khuôn khổ hiện trạng của Mỹ.

Tóm lại, mặc dù vị giáo hoàng mới không thù địch với Giáo hội tại Hoa Kỳ, nhưng vào năm 1978, ngài cũng không coi đó là một hình mẫu khả thi cho tương lai của Giáo Hội Công Giáo. Điều đó đã thay đổi đáng kể trong vòng một phần tư thế kỷ tiếp theo, một phần là do sự đổi mới mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã giúp khơi dậy trong Giáo Hội Công Giáo Mỹ và một phần là do sự hiểu biết ngày càng sâu sắc của ngài rằng Hoa Kỳ, dù có nguồn gốc sâu xa từ Âu Châu, không chỉ đơn thuần là Âu Châu được du nhập vào.

Sự thay đổi trong nhận thức của cả Đức Giáo Hoàng và Giáo hội Hoa Kỳ bắt đầu với chuyến hành hương đầu tiên của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đến Mỹ vào tháng 10 năm 1979. Phản ứng phi thường mà ngài nhận được ở Boston, New York, Philadelphia, Des Moines, Chicago và Washington cho thấy rằng Giáo hội, đặc biệt là trong giới trẻ, có sức sống mạnh mẽ hơn nhiều so với những gì Đức Giáo Hoàng từng nghĩ: sức sống đó có thể thúc đẩy điều mà sau này Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gọi là “Tân Phúc Âm Hóa”. Đồng thời, sự nhiệt tình mà Đức Giáo Hoàng khơi dậy cũng nhắc nhở những người Công Giáo Mỹ tỉnh táo hơn rằng đã đến lúc phải thoát khỏi thế phòng thủ, từ bỏ những cuộc chiến tranh phe phái hậu Công đồng Vatican II và tiếp tục thực hiện lời kêu gọi của Công đồng là thánh hóa thế giới.

Trong hai thập niên tiếp theo, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tiếp tục truyền cảm hứng cho sự đổi mới của Công Giáo đầy sức sống Tin Mừng ở Hoa Kỳ. Đồng thời, ngài nhận ra rằng giáo huấn xã hội của mình đang được thảo luận nghiêm chỉnh hơn nhiều ở Hoa Kỳ so với bất kỳ nơi nào khác, và việc bảo vệ sự sống mà ngài tuyên bố trong thông điệp Evangelium Vitae năm 1995 đã nhận được sự thể hiện công khai rộng rãi hơn ở Hoa Kỳ so với tổng số phần còn lại của các quốc gia được gọi là “phát triển”. Điều đó, đến lượt nó, gợi ý cho Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II rằng nền tảng của nước Mỹ được bắt nguồn từ các nguyên tắc của luật luân lý tự nhiên phù hợp với ý tưởng Kinh Thánh về phẩm giá bất khả xâm phạm và giá trị vô hạn của mỗi mạng sống con người.

Sau sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản Âu Châu từ năm 1989 đến 1991, hai câu hỏi được đặt ra: Phải chăng dân chủ và nền kinh tế tự do chỉ đơn thuần là những cơ chế chính trị và kinh tế có thể hoạt động tốt trên hầu hết mọi nền tảng văn hóa? Các nền dân chủ mới của Âu Châu hậu cộng sản có thể tìm kiếm mô hình sống tự do một cách cao quý ở đâu? Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã trả lời câu hỏi đầu tiên trong thông điệp Centesimus Annus năm 1991: Cần một số lượng lớn người sống theo những thói quen nhất định của tâm hồn và trí óc - những đức tính nhất định - để chính trị tự do và kinh tế tự do hỗ trợ sự phát triển toàn diện của cá nhân và tình đoàn kết xã hội. Và qua nhiều giờ trò chuyện với ngài, tôi có thể nói rằng Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II hy vọng rằng Ba Lan và các quốc gia mới giành độc lập khác ở Trung và Đông Âu sẽ học hỏi được một số bài học từ kinh nghiệm của Mỹ trong việc xây dựng xã hội hậu cộng sản của họ.

Tại sao? Bởi vì Đức Giáo Hoàng nhìn thấy ở Hoa Kỳ một nền dân chủ phát triển, nơi niềm tin tôn giáo tiếp tục định hình cuộc sống của đa số công dân và nơi lập luận đạo đức dựa trên tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong đời sống công cộng. Hoa Kỳ không phải là Pháp, nơi chủ nghĩa thế tục được hiến pháp ghi nhận; cũng không phải là nước Anh hay Đức, nơi tôn giáo Kinh thánh từ lâu đã không còn định hình văn hóa quốc gia và các vấn đề công cộng. Tại Hoa Kỳ, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II hy vọng, tầm nhìn về một xã hội tự do và đức hạnh mà ngài đã phác thảo trong thông điệp Centesimus Annus—một xã hội trong đó Giáo hội giúp định hình một nền văn hóa đạo đức công cộng sôi động, hướng dẫn những năng lượng to lớn được giải phóng bởi tự do chính trị và kinh tế—có thể được hiện thực hóa, và các quốc gia khác có thể thấy trong sự hiện thực hóa đó rằng tự do và đức hạnh đi cùng nhau như thế nào.

Khi nước Mỹ sắp kỷ niệm 250 năm thành lập, chúng ta nên nhớ rằng nhân vật biểu tượng của nửa sau thế kỷ XX đã đặt rất nhiều kỳ vọng vào chúng ta: những kỳ vọng mà giờ đây dường như là lời kêu gọi một cuộc tự vấn lương tâm quốc gia.


Source:First Things