1. Chủ tịch ủy ban USCCB hoan nghênh thỏa thuận Mỹ-Iran, kêu gọi hòa bình ở Li Băng và giải giáp Hezbollah.

Tôi hoan nghênh Tổng thống Trump và Tổng thống Pezeshkian vì đã thực hiện bước đi vô cùng quan trọng là ký kết bản ghi nhớ nhằm chấm dứt xung đột giữa Hoa Kỳ và Iran và thúc đẩy đối thoại sâu rộng hơn vì hòa bình lâu dài trong khu vực”, Đức Cha A. Elias Zaidan, Chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa bình Quốc tế của Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ, cho biết như trên sau khi Tổng thống Trump và Tổng thống Iran Pezeshkian ký bản ghi nhớ chung.

Dưới đây là tuyên bố của Đức Cha Zaidan:

“Tôi hoan nghênh Tổng thống Trump và Tổng thống Pezeshkian đã thực hiện bước đi vô cùng quan trọng là ký kết bản ghi nhớ nhằm chấm dứt xung đột giữa Hoa Kỳ và Iran, đồng thời thúc đẩy đối thoại sâu rộng hơn vì hòa bình lâu dài trong khu vực. Ngăn chặn sự phổ biến thêm vũ khí hạt nhân là điều tối quan trọng để tránh leo thang xung đột nguy hiểm ở Trung Đông. Nhắc lại lời bày tỏ hy vọng của Đức Thánh Cha Lêô XIV, tôi kêu gọi tất cả các bên tham gia với thiện chí và cầu nguyện rằng 'thỏa thuận này sẽ giúp củng cố lòng tin, an ninh và ổn định lẫn nhau ở Trung Đông, thúc đẩy các con đường đối thoại và hợp tác giữa các dân tộc.'“

“Tôi kêu gọi Hoa Kỳ, Iran và Israel hãy ưu tiên chấm dứt giao tranh ở Li Băng. Việc giải giáp Hezbollah là cần thiết cho hòa bình và phát triển ở Li Băng. Hơn một triệu người đã phải di tản trong nước, trong đó có 400.000 trẻ em, và hàng ngàn người đã chạy trốn sang Syria láng giềng, điều này có thể làm gia tăng bất ổn trong khu vực. Nếu giao tranh và thảm họa nhân đạo tiếp diễn ở Li Băng, tôi e rằng hòa bình trên toàn khu vực Trung Đông sẽ vẫn không thể đạt được.”

“Chúng ta hãy cầu nguyện xin Chúa Thánh Thần, Đấng tạo hóa và ban sự sống, ban cho tâm trí và trái tim của những người đàm phán sự khôn ngoan, lòng thương xót và sự kiên trì, để hòa bình trong khu vực cuối cùng trở thành hiện thực.”


Source:USCCB

2. Đức Giáo Hoàng ca ngợi sự thánh thiêng và vẻ đẹp của các nghi lễ phụng vụ Đông phương; đồng thời bày tỏ sự tiếc thương trước những ảnh hưởng của chiến tranh đối với các tín hữu Kitô giáo ở Trung Đông.

Trong buổi tiếp kiến với các thành viên tham dự cuộc họp của Liên hiệp các Cơ quan Viện trợ cho các Giáo hội Đông phương, gọi tắt là ROACO, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã ca ngợi tính thánh thiêng của các nghi lễ Đông phương và lên án những ảnh hưởng của chiến tranh.

Đức Giáo Hoàng đã khen ngợi các nhà tổ chức vì đã dành cuộc gặp gỡ hôm Thứ Năm, 18 Tháng Sáu, cho chủ đề đào tạo giáo sĩ và tu sĩ Công Giáo Đông phương.

Đức Giáo Hoàng Lêô nói: “Thực ra, việc hỗ trợ một Giáo hội không chỉ đơn thuần là cung cấp cho Giáo hội các phương tiện vật chất để duy trì hoạt động, mà còn là giúp Giáo hội phát triển về bản sắc và khả năng truyền giáo, dựa trên việc đào tạo các thừa tác viên được kêu gọi để lan tỏa sự giàu có về tinh thần của Giáo hội. Đúng vậy, các Giáo Hội Công Giáo Đông phương có một món quà lớn lao để dâng tặng cho toàn thể cộng đồng Công Giáo, vốn thường không nhận thức được sự đa dạng của các truyền thống Giáo hội trong hàng ngũ của mình.”

Đức Giáo Hoàng giải thích:

Thực tế, tất cả các Giáo hội Đông phương cổ đại đều dẫn chúng ta trở về nguồn gốc của đức tin. Họ làm cho ánh sáng ân sủng tỏa sáng qua các nghi thức phụng vụ giàu tính thánh thiêng; họ biểu lộ trong sự thờ phượng và ngợi khen mầu nhiệm Thiên Chúa, Đấng đáng được tôn thờ; họ làm chứng cho sức mạnh của lời cầu bầu; họ ban tặng những của cải thiêng liêng lấp đầy trái tim bằng sự kinh ngạc và lòng biết ơn trước vẻ đẹp mà họ hé lộ. Họ cũng hướng dẫn các tín hữu bày tỏ lời cầu nguyện của riêng mình theo những đặc điểm thần học và nhân học phù hợp nhất với mỗi Giáo hội…

Chỉ khi hiểu rõ về Kitô giáo phương Đông thì ta mới có thể bảo tồn được nó: đánh mất sự hiểu biết đó sẽ làm suy yếu Giáo hội. Nhưng để hiểu biết và yêu mến nó, chúng ta phải đầu tư vào việc đào tạo.

Đức Giáo Hoàng Lêô kêu gọi những người giúp đỡ các Kitô hữu phương Đông hãy “nuôi dưỡng đời sống tâm linh của mình, đặc biệt là thông qua việc cầu nguyện liên tục và tham gia các bí tích”.

Đức Giáo Hoàng cảnh báo: “Thực tế, những việc làm tốt sẽ không mang lại kết quả lâu dài nếu chúng không được nuôi dưỡng từ nguồn gốc của sự tốt lành, nguồn gốc đó chính là Thiên Chúa. Nếu đúng như câu ‘đức tin không có việc làm cũng chết’, như chúng ta đọc trong Thư của Gia-cô-bê (2:26), thì cũng đúng rằng những việc làm mà không có đức tin sống động thì vô ích.”

Lên án những hậu quả của chiến tranh, Đức Giáo Hoàng nói thêm:

Làm sao chúng ta có thể không nghĩ đến cuộc di cư đau thương của các tín hữu Kitô giáo phương Đông khỏi quê hương của họ, chủ yếu là do chiến tranh gây ra—mà tôi xin nhắc lại, chiến tranh không giải quyết được vấn đề mà chỉ tạo ra những bi kịch, những bi kịch thường bị lãng quên? Có một tai họa, một tai ương sinh ra từ chiến tranh, mà tôi muốn nói đến hôm nay, một tai họa tiếp tục hút cạn sinh lực của các Giáo hội phương Đông nói riêng. Tôi định nghĩa nó bằng một từ duy nhất: bất ổn.

“Chúng ta hãy cầu nguyện với Chúa Giêsu, Chúa của hòa bình, và kêu gọi lương tâm mọi người để họ được lay động bởi sự phẫn nộ; và để lòng tôn trọng nhân loại và ý thức văn minh đúng đắn được khôi phục,” Đức Giáo Hoàng Lêô kết luận. “Tôi xin chân thành cảm ơn anh chị em và nhiều nhà hảo tâm, những người nhân danh Tin Mừng tiếp tục cống hiến hết mình để khắc phục sự vô nhân đạo này. Tôi chúc phúc cho anh chị em thân yêu và khuyến khích anh chị em kiên trì trong đức bác ái mà không nản lòng, được nâng đỡ bởi niềm hy vọng nơi Chúa Kitô.”


Source:Catholic World News

3. Đức Tổng Giám Mục Viganò: 'Tôi không phải là người ly giáo'

Đức Tổng Giám Mục Carlo Maria Viganò đã công bố toàn văn bức thư riêng gửi cho Giáo hoàng Lêô XIV vào ngày 25 Tháng Giêng năm 2026, trong đó cựu sứ thần Tòa Thánh tại Hoa Kỳ bảo vệ thành tích phục vụ dưới thời năm vị Giáo hoàng, bác bỏ án phạt vạ tuyệt thông năm 2024 là bất hợp pháp và kêu gọi vị Giáo hoàng mới đối mặt với điều mà ngài mô tả là sự đoạn tuyệt của Giáo hội với Truyền thống.

Văn bản này, được LifeSiteNews công bố vào ngày 15 tháng 6, được đưa ra vài tháng sau khi những nỗ lực liên tục của Viganò nhằm xin được diện kiến Đức Giáo Hoàng được tường trình đã được chấp nhận rồi lại bị hủy bỏ. Trong bức thư, được gửi từ Viterbo vào ngày lễ Thánh Phaolô trở lại, vị giám mục 85 tuổi kể lại sự nghiệp ngoại giao của mình, vai trò của ngài trong việc vạch trần những băng hoại trong giới giáo sĩ và niềm tin ngày càng lớn mạnh của ngài rằng Công đồng Vatican II đánh dấu một sự đoạn tuyệt có chủ ý với giáo huấn vĩnh cửu của Giáo hội.

Sinh ra tại Varese vào ngày 16 Tháng Giêng năm 1941, trong một gia đình “sùng đạo Công Giáo”, Viganò được thụ phong linh mục năm 1968. Ngài theo học tại trường ngoại giao Tòa Thánh năm 1971 và phục vụ tại các sứ quán Tòa Thánh ở Baghdad, Kuwait và Luân Đôn trước khi giữ các chức vụ cao cấp trong Phủ Quốc vụ khanh. Được tấn phong giám mục bởi Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, ngài từng là sứ thần Tòa Thánh tại Nigeria từ năm 1992 đến năm 1998, đại diện cho các phái đoàn Tòa Thánh từ năm 1998 đến năm 2009 và tổng thư ký của Phủ Thống đốc Thành phố Vatican dưới thời Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16. Năm 2011, ngài được bổ nhiệm làm sứ thần Tòa Thánh tại Hoa Kỳ, một chức vụ ngài nắm giữ cho đến năm 2016.

“Tôi sinh ra… trong một gia đình Công Giáo sùng đạo, nhờ đó tôi có thể lớn lên và thực hành đức tin của mình mỗi ngày”. Ngài mô tả việc giải quyết “những vụ việc bí mật và tế nhị nhất liên quan đến các giám mục và Hồng Y, bao gồm cả hồ sơ của Theodore McCarrick”, những hành động mà ngài cho rằng đã dẫn đến việc ngài bị cách chức khỏi các vị trí quan trọng mặc dù đã xoay chuyển tình hình tài chính của Tòa Thánh từ mức thâm hụt 15 triệu euro thành thặng dư 35 triệu euro trong vòng 18 tháng.

Đức Tổng Giám Mục Viganò đã trình bày chi tiết các hạn chế cá nhân được áp đặt sau năm 2016: bị trục xuất khỏi sứ quán Tòa Thánh ở Washington vào đúng ngày sinh nhật thứ 75 của ngài, bị thu hồi quốc tịch và hộ chiếu Vatican dưới thời Đức Thánh Cha Phanxicô, bị từ chối tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe và bị thu hồi bằng lái xe Vatican mà ngài đã có từ năm 1973. Ngài nói: “Ngài cũng cấm tôi cư trú tại khu nhà ở dành cho các sứ thần Tòa Thánh đã nghỉ hưu ở Rôma, nơi được Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16 chuẩn bị đặc biệt”.

Ngài cho biết, lời khai năm 2018 của ngài về McCarrick và cáo buộc Giáo triều đồng lõa đã buộc ngài phải lẩn trốn theo lời khuyên của Hồng Y Raymond Burke giữa những lời đe dọa và sau cái chết đáng ngờ của người tiền nhiệm, là Đức Tổng Giám Mục Pietro Sambi. Điều này đã khiến ngài đặt câu hỏi về “nguồn gốc sâu xa của tình trạng thảm khốc của Giáo Hội Công Giáo”.

Bức thư đưa ra một bài phê bình chi tiết về Công đồng và hậu quả của nó. Đức Tổng Giám Mục Viganò nhắc lại việc đào tạo tại chủng viện đã được định hình bởi các “nhà thần học mới” như Küng, Rahner và Congar trước khi Công đồng kết thúc. Ngài mô tả một “cuộc cách mạng Công đồng” tuân theo “một kịch bản rất chính xác”, với các văn kiện được thiết kế cho cả cách giải thích chính thống và dị giáo. Ngài viết: “Chính những người kiến tạo nên Công đồng Vatican II đã định nghĩa nó là ‘năm 1789 của Giáo hội’ “, trích dẫn cách tự nhận thức của nó là khác biệt so với các công đồng trước đó.

Đức Tổng Giám Mục Viganò nhớ lại: “Tôi đã chứng kiến hàng ngàn người rời bỏ ơn gọi linh mục và tu sĩ, trong khi những linh mục không muốn ủng hộ con đường mới của Công đồng hay từ bỏ Phụng vụ Tridentinô thì bị tẩy chay, bị coi là dị giáo, bị vạ tuyệt thông hoặc bị đình chỉ chức vụ, bị tước đoạt lương và bị bỏ mặc cho chết trong cô độc.”

Về mục đích cuối cùng của nó, Đức Tổng Giám Mục nhận xét: “Công đồng đã tạo điều kiện và góp phần vào việc phi Kitô hóa phương Tây và thiết lập, trong lĩnh vực dân sự, một trật tự mới phù hợp với kế hoạch của Hội Tam điểm. Kế hoạch của các hội này đã được biết đến rộng rãi, và chúng ta biết rằng chúng bao gồm việc thâm nhập vào Giáo Hội Công Giáo và tấn Công Giáo hội từ bên trong để đạt được các mục tiêu đã được định trước.”

Ngài kể lại việc tái khám phá Thánh lễ Latinh truyền thống, mà ngài đã cử hành trong lễ thụ phong linh mục năm 1968, và việc thành lập Quỹ Exsurge Domine để hỗ trợ các giáo sĩ và chủng sinh bị bức hại, bao gồm cả các thành viên của hội huynh đệ Familia Christi đã bị giải thể. Ngài giải thích: “Việc từ bỏ Thánh lễ Montini đánh dấu một giai đoạn mới trong chức vụ giám mục của tôi”.

Về vị thế giáo luật của mình, Đức Tổng Giám Mục Viganò khẳng định dứt khoát: “Trước vạ tuyệt thông bất công áp đặt lên tôi, tôi tuyên bố rằng tôi không phải là kẻ ly giáo! Nhờ ân sủng của Chúa, tôi là và sẽ mãi là một người con ngoan đạo của Giáo hội Rôma Thánh thiện… Tôi tin tưởng vững chắc vào sự hiệp thông tông đồ, và tôi công nhận quyền tối cao của Thánh Phêrô.” Ngài lập luận rằng những người buộc tội ngài đã không bác bỏ được lập luận của ngài và hành động vì động cơ ý thức hệ.

Đức Tổng Giám Mục đã so sánh cách đối xử với ngài với sự khoan dung dành cho những người khác. Ngài dẫn chứng trường hợp của linh mục người Peru Eleuterio Vásquez Gonzales, được biết đến với tên gọi Padre Lute, người bị buộc tội lạm dụng tình dục và bị tước bỏ chức vụ giáo sĩ mà không cần xét xử, trong khi luật sư giáo luật của các nạn nhân được tường trình bị gạt ra ngoài lề. Ngài viết: “Trường hợp này lặp lại cùng một phương thức hoạt động mà Bergoglio đã từng áp dụng với McCarrick trước đây”.

Đức Tổng Giám Mục Viganò đã trực tiếp kêu gọi Lêô XIV, vị Giáo hoàng người Mỹ đầu tiên, được bầu chọn vào tháng 5 năm 2025 sau khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô qua đời. Ngài tuyên bố: “Tôi không thể hiểu làm thế nào mà sau kinh nghiệm thảm khốc của Jorge Bergoglio, ngài không chỉ từ chối lên án những sai lầm và bê bối của vị Giáo Hoàng Á Căn Đình, mà còn nắm bắt mọi cơ hội để khẳng định sự tiếp nối hoàn toàn của mình với chúng”, đồng thời viện dẫn Đức Giáo Hoàng Lêô XIII và đặt câu hỏi làm thế nào mà Giáo hội lại rơi vào tình trạng các vị Giáo hoàng trước Công đồng Vatican II lại bị đánh giá là ly giáo theo tiêu chuẩn ngày nay.

Ngài kết luận bằng cách yêu cầu Đức Giáo Hoàng hoặc xác nhận đức tin của ngài, hoặc chỉ ra những điểm ngài mâu thuẫn với Kho tàng Đức tin: “Xin hãy cho tôi biết tôi đã mâu thuẫn với Đức tin Công Giáo ở điểm nào, và tôi sẽ sửa đổi… Tôi xin Ngài hãy sử dụng quyền tối cao của mình để xác nhận đức tin cho các anh em.”

Tính đến ngày 18 tháng 6, bức thư được gửi qua đường bưu điện Vatican vẫn chưa nhận được phản hồi công khai nào từ Tòa Thánh. Án phạt vạ tuyệt thông tự động (latae sententiae) dành cho Đức Tổng Giám Mục Viganò, được tuyên bố vào tháng 7 năm 2024 vì phủ nhận tính hợp pháp của Đức Phanxicô và bác bỏ Công đồng Vatican II, vẫn còn hiệu lực dưới triều Giáo Hoàng mới. Các nhà quan sát theo truyền thống tiếp tục theo dõi sát sao mọi dấu hiệu thay đổi về phụng vụ hoặc giáo lý dưới thời Giáo hoàng Lêô XIV, người có xuất thân là một tu sĩ dòng Augustinô với kinh nghiệm sâu rộng ở Peru, điều này đã dẫn đến những đánh giá trái chiều ban đầu từ các giới bảo thủ.


Source:Catholic Herald