Francis X. Maier, trong bản tin ngày 17 tháng 7 năm 2026 của tạp chí The Catholic Thing, cho rằng: Người Mỹ không đau khổ vì chứng mất trí nhớ. Chúng ta thích điều đó. Ký ức định hình con người chúng ta, một quốc gia và một nền văn hóa. Nhưng chúng ta tự định nghĩa mình là một “trật tự thời đại mới”. Những từ đó được khắc trực tiếp trên Quốc huy Hoa Kỳ. Vì vậy, người Mỹ không thích quá khứ. Và kể từ những năm 1960, người châu Âu cũng làm theo. Lý do rất đơn giản. Lịch sử như nó thực sự đã xảy ra là một gánh nặng bất tiện. Chúng ta phớt lờ hoặc tái tạo nó, để tốt hơn cho việc tái tạo chính mình. Và đây chính xác là cách mà tinh thần hiện đại đối xử với nguồn gốc Kitô giáo của nền văn minh chúng ta.
Ví dụ, thuật ngữ “Thời Trung Cổ” là sản phẩm của các nhà nhân bản thời Phục Hưng. Thời kỳ Khai sáng đã thêm một hương vị cay đắng vào hỗn hợp đó. Đối với những người như Voltaire, quá khứ Kitô giáo chẳng khác gì một sự pha trộn giữa sự tàn ác, ngu dốt và mê tín. Và bức tranh biếm họa đó – sự xuyên tạc lịch sử thực sự – vẫn tồn tại đến ngày nay. Bộ phim sắp ra mắt của Robert Eggers, Werwulf, dự kiến phát hành vào ngày Giáng sinh năm 2026, khắc họa một vị linh mục độc ác như dự đoán trong bối cảnh thế kỷ 13 tăm tối và khắc nghiệt. Bộ phim Kingdom of Heaven năm 2005 của Ridley Scott lại miêu tả giới giáo sĩ Cơ đốc giáo tham nhũng ở thế kỷ 12 và những chiến binh thập tự chinh điên cuồng hô hào “Chúa muốn thế!” để gây hỗn loạn.
Vấn đề với những bức tranh biếm họa là chúng sai sự thật. Chúng là sự pha trộn giữa sự thật và chủ nghĩa xét lại hiện đại mang tính vị kỷ. Thời Trung Cổ có rất nhiều bệnh tật, nghèo đói, bạo lực và hỗn loạn. Nhưng chúng cũng được đánh dấu bởi nghệ thuật, kiến trúc và học thuật phi thường. Chúng cũng chứng kiến một sự đổi mới tôn giáo sâu sắc; sự nở rộ của luật dân sự, luật giáo hội và luật tục; và sự phục hồi kinh tế đáng kể. Còn về các cuộc Thập tự chinh – mục tiêu ưa thích của các nhà phê bình hiện đại – hãy xem xét những điều sau đây.
Jonathan Riley-Smith (mất năm 2016) được tôn kính là một trong những nhà sử học vĩ đại nhất trong 100 năm qua. Ông cũng được xem là học giả hàng đầu về thời kỳ Thập tự chinh, một danh tiếng được xây dựng dựa trên khối lượng công trình đồ sộ. Là một người trở lại Công Giáo khi còn là sinh viên đại học ở Cambridge, ông chưa bao giờ xem nhẹ hay lãng mạn hóa sự bạo lực của các cuộc Thập tự chinh. Ngược lại, ông lưu ý rằng chúng thường bị phá hoại bởi "sự vô kỷ luật và những hành động tàn bạo" - bao gồm cả những sự bộc phát thù hận dữ dội chống lại người Do Thái - dẫn đến sự đau khổ tột cùng. Nhưng ông đã giải thích bối cảnh và nội dung của chúng với độ chính xác đặc biệt. Và ông luôn kiên quyết tìm cách hiểu các cuộc Thập tự chinh qua con mắt của những người tham gia.
Cuốn sách The Crusades, Christianity, and Islam của Riley-Smith, dựa trên loạt bài giảng Bampton năm 2007 của ông tại Đại học Columbia, chỉ trong chưa đầy 80 trang đã nắm bắt được thực tế về động cơ, cuộc sống và thời đại của những người tham gia Thập tự chinh. Ông đặc biệt ghê tởm những sự xuyên tạc hiện đại như trong phim "Vương quốc Thiên đường", trong đó:
Một tầng lớp giáo sĩ Ki-tô giáo tàn nhẫn, tham lam và hèn nhát rao giảng lòng căm thù không pha lẫn đối với người Hồi giáo. Sự ngu dốt và cuồng tín của các linh mục được phản ánh trong tâm trí của những người thập tự chinh, các Hiệp sĩ Templar và hầu hết các nhà lãnh đạo của khu định cư Ki-tô giáo xung quanh Giêrusalem… [Tuy nhiên, giữa] sự cuồng tín và cố chấp, một nhóm những người tư tưởng tự do đã thề sẽ tạo ra một môi trường mà tất cả các tôn giáo có thể cùng tồn tại hài hòa. Họ liên lạc với [nhà lãnh đạo Hồi giáo] Saladin, người chia sẻ mục tiêu khoan dung và hòa bình của họ, nhưng những người cuồng tín phía Ki-tô giáo lại tìm cách phá hoại bất cứ cơ hội thỏa hiệp nào với Hồi giáo.
Đối với người hoài nghi thế tục ngày nay hoặc người xem phim thiếu hiểu biết, cốt truyện như vậy có thể có giá trị giải trí. Nhưng xét về lịch sử, đó hoàn toàn là tuyên truyền phản thực tế.

Dù có vẻ khó hiểu đối với tư duy hiện đại, các cuộc Thập tự chinh là "những hành động sám hối tập thể", "những cuộc hành hương chiến tranh sám hối" và - quan trọng nhất - về cơ bản là phản ứng lại sự chinh phục Đất Thánh của người Hồi giáo và sự can thiệp vào các cuộc hành hương của Kitô giáo. Chúng xuất phát từ một nền thần học thời trung cổ hữu cơ về chiến tranh sám hối và tư tưởng chiến tranh chính nghĩa của Thánh Augustinô, chứ không phải là sự xuyên tạc của nó. Như Riley-Smith đã lưu ý, chúng được sự ủng hộ của các vị thánh từ Bernard xứ Clairvaux đến Thomas Aquinas và Catherine xứ Siena. Các cuộc Thập tự chinh chưa bao giờ mang tính thực dân hay đế quốc theo nghĩa hiện đại.
Chúng cũng tiềm ẩn rủi ro lớn: Tỷ lệ tử vong trong các cuộc Thập tự chinh là khoảng 35% trong số các quý tộc và hiệp sĩ, với thương vong cao hơn nhiều trong số những người kém khá giả hơn. Các cuộc Thập tự chinh cũng không mang lại sự giàu có lớn. Chúng đã gây thiệt hại tài chính nghiêm trọng cho đại đa số những người tham gia. Và tuyên bố rằng các cuộc Thập tự chinh là một cách để đẩy những người con trai út của giới quý tộc châu Âu – những người con không thể thừa kế đất đai và tước vị của gia đình – sang vùng Mặt Trời Mọc [Levant] cũng sai. Trong giới quý tộc, Thập tự chinh thường là chuyện gia đình. Cha và con cùng nhau ra trận chiến đấu. Và hầu hết những người sống sót sau Thập tự chinh đều trở về. Họ trở về châu Âu sau khi một cuộc thập tự chinh thành công hoặc thất bại, thường trong tình trạng nợ nần và sức khỏe suy yếu.
Nói một cách đơn giản, bất chấp nhiều tội lỗi nghiêm trọng của những người tham gia thập tự chinh, động cơ chính của các cuộc thập tự chinh là lòng sùng đạo và nhiệt huyết chân chính — điều mà giới tinh hoa hiện đại không hiểu cũng không tôn trọng. Những người theo Ki-tô giáo thời thập tự chinh coi Hồi giáo là kẻ bức hại tín hữu, kẻ xúc phạm các thánh địa, và là kẻ xâm lược tàn bạo đã chiếm Giêrusalem, Tây Ban Nha và phần lớn Đế chế Byzantine (Ki-tô giáo) bằng vũ lực nhân danh thánh chiến; bóp nghẹt Ki-tô giáo khắp Bắc Phi; và tiến sâu vào Pháp trước khi bị đẩy lùi. Ngày nay, chúng ta có thể chỉ trích và tiếc nuối khái niệm về các cuộc chiến tranh “thánh”. Nhưng chúng ta làm điều đó từ một khoảng cách rất thuận tiện.
Vậy thì việc khơi lại tất cả những điều này có ý nghĩa gì?
Trong tiểu thuyết phản không tưởng 1984 của George Orwell, Bộ Sự thật của chế độ không ngừng nỗ lực để đảm bảo sự kiểm soát tuyệt đối của mình đối với thực tại. Những tin tức, hình ảnh và sự kiện gây rắc rối từ quá khứ đơn giản được sửa đổi hoặc bị xóa sổ trong những “lỗ hổng ký ức”. Ở thời đại và đất nước chúng ta, chúng ta không làm điều gì thẳng thừng như vậy; không làm điều gì thô thiển như vậy. Thay vào đó, chúng ta chỉ đơn giản là quên đi. Chúng ta biến quá khứ và những nghĩa vụ của nó trở nên không còn ý nghĩa – những mảnh vụn dễ quên trên dòng sông ồn ào và tiện nghi; những thứ gây xao nhãng và nghiện ngập cái mới. Như FanDuel Casino không ngừng nhắc nhở chúng ta, tất cả chúng ta đều có tiềm năng trở thành “tỷ phú”.
Đây là vấn đề: Một Đấng quan trọng đã từng nói, “Hãy làm điều này để tưởng nhớ đến Thầy.” (Lu-ca 22:19) Tưởng nhớ Con Thiên Chúa, chúng ta là ai với tư cách là dân của Người, cuộc hành trình của chúng ta xuyên suốt lịch sử, và ơn gọi truyền giáo của chúng ta: Đó là sứ mệnh và vinh quang của chúng ta. Chúng ta là một phần của điều gì đó lớn lao và đẹp đẽ hơn chính bản thân chúng ta, tội lỗi của chúng ta và thời đại của chúng ta. Và nhiệm vụ ghi nhớ điều đó là thánh thiêng.