Cha Peter M.J. Stravinskas, trong bản tin ngày 3 tháng 10 năm 2026 của The Catholic Thing, tâm sự: Tôi viết những dòng này trong tuần lễ mừng sự kiện phong chân phước cho Đức Cha Fulton J. Sheen, và cảm thấy mình vẫn đang đắm mình trong niềm hân hoan của sự kiện đầy phước hạnh và được mong chờ từ lâu ấy—một sự kiện mang nhiều ý nghĩa bản thân đối với tôi.

Khi còn là học sinh, cứ sáng thứ Tư hàng tuần, tôi lại được một nữ tu kiểm tra bài vở; bà thường hỏi cả lớp: “Tối qua ‘Đức Giám Mục’ đã nói gì?” (Vào thời đó, khi nhắc đến “Đức Giám Mục”, người ta không nghĩ ngay đến vị Giám mục giáo phận sở tại, mà là nghĩ đến Đức Cha Sheen!).

Năm tôi học lớp ba, ngài đã ký tặng vào cuốn sách kinh Rước Lễ Lần Đầu của tôi và nói với cha tôi rằng: “Thưa ông, một ngày nào đó chàng trai trẻ này sẽ trở thành linh mục.” Khi sắp được thụ phong linh mục, tôi đã viết thư cho ngài để xác nhận “lời tiên tri” mà ngài đã nói gần hai thập niên trước; ngài đã ân cần hồi âm, hứa cầu nguyện và gửi những lời chúc tốt đẹp nhất cho đời sống cũng như sứ vụ linh mục của tôi. Tôi cũng đã đồng tế trong Thánh lễ An táng của ngài.

Sự kiện diễn ra gần đây tại St. Louis thực sự là một màn trình diễn tuyệt vời, xứng tầm với một con người vốn là bậc thầy trong việc thu hút công chúng—theo nghĩa tích cực nhất của từ này. Điều gây ấn tượng mạnh mẽ nhất đối với tôi chính là sự trẻ trung của sự kiện. Có tới một ngàn linh mục (trong đó 95% thậm chí chưa chào đời khi Đức Cha Sheen qua đời) và 850 chủng sinh mặc áo chùng thâm cùng áo lá sách (surplice), bên cạnh rất nhiều gia đình trẻ. Trong khi đó, trong số gần 450 giám mục tại đất nước chúng ta, chỉ có 89 vị chịu dành thời gian tham dự (tất nhiên, ngay cả thời còn sống, Đức Cha Sheen cũng từng bị các giám mục đồng thời ghen tị).

Chính yếu tố “sự trẻ trung” ấy đã thôi thúc tôi liên kết những quan sát và suy gẫm của bản thân trong thời gian gần đây.

Thánh lễ Chúa Thánh Thần khai giảng năm học tại Đại học Công Giáo Hoa Kỳ (The Catholic University of America) ở Washington thực sự rất ấn tượng: tất cả các phần hát trong Thánh lễ đều bằng tiếng La-tinh; bài giảng tuyệt vời của vị Sứ thần Tòa Thánh mới; nghi thức tuyên xưng đức tin và tuyên thệ trung thành của các giảng viên mới; sự cung kính hiện rõ nơi hơn một nghìn sinh viên. Tất cả những điều này diễn ra tại một cơ sở giáo dục từng chìm đắm trong những quan điểm sai lạc về đức tin (tà thuyết) suốt từ năm 1968 đến tận những năm 1980!

Vương cung Thánh đường Thánh Tâm tại Đại học Notre Dame là nơi diễn ra nghi thức tuyên khấn trọn đời của bốn thành viên trẻ thuộc Dòng Thánh Giá (Congregation of the Holy Cross). Một lần nữa, bầu khí phụng vụ thật đầy cảm hứng, cũng như thái độ trang nghiêm của các sinh viên lấp đầy không gian thờ phượng tuyệt đẹp ấy.

Và gần đây, trường đại học này đã được dâng hiến cho Thánh Tâm Chúa Giêsu – một hành động đạo đức khởi nguồn từ chính sáng kiến của các sinh viên.

Giáo phận Wichita đã mở một chủng viện mới dành cho bậc đại học (vâng, là "mở" chứ không phải "đóng") nhờ vào sự gia tăng mạnh mẽ về ơn gọi linh mục mà họ đã chứng kiến trong suốt một thời gian dài. Liệu điều này có thể được lý giải bởi thực tế rằng đây là giáo phận duy nhất trong cả nước có hệ thống trường Công Giáo hoàn toàn miễn học phí?

Sức sống trẻ trung của Công Giáo Mỹ thậm chí đã vượt đại dương sang bên kia bờ Đại Tây Dương. Đại học Ave Maria đã thiết lập một cơ sở tại Giáo phận Waterford (Ireland), ngay trên vùng đất từng là Tu viện Cistercian Mount Melleray lừng danh một thời. Một lần nữa, thánh lễ khai trương lại nổi bật với âm nhạc tuyệt vời và sự tham dự đầy cung kính, cùng bài giảng đầy lay động của Đức Giám Mục giáo phận về tầm quan trọng và ý nghĩa của nền giáo dục Công Giáo.

Tu viện Mount Melleray ở Hạt Waterford, Ireland – Ảnh: Alexander Redfern, 2019 [Nguồn: Wikipedia]


Chúng ta đều biết rằng đời sống đức tin tại Ireland đã rơi vào tình trạng trì trệ từ lâu. Liệu tia lửa từ nền Công Giáo Mỹ này có khơi dậy lại ngọn lửa đức tin tại nơi từng được mệnh danh là "Hòn đảo của các Thánh nhân và Học giả" hay không?

Trong tất cả các thánh lễ này, những điểm chung đều rất rõ nét: các hình thức phụng vụ truyền thống, với sự hiện diện đậm nét của tiếng La-tinh, bình ca Gregorian và nhạc đa âm thời Phục hưng; người trẻ ăn mặc trang trọng để diện kiến Vua các vua; và đặc biệt là việc rước Mình Thánh Chúa với lòng sùng kính sâu sắc – đại đa số rước lễ bằng lưỡi và nhiều người quỳ gối khi lãnh nhận.

Tôi nghĩ rằng những kẻ hay bi quan về tương lai Giáo hội trong hàng ngũ chúng ta nên nhớ lại câu nói dí dỏm của Mark Twain: "Tin đồn về cái chết của tôi đã bị thổi phồng quá mức." Điều đó cũng khiến tôi tự hỏi làm sao những người theo trường phái Lefebvre có thể chứng kiến những hiện tượng như vậy mà lại kết luận rằng Đức Tin đã chết? Phải thừa nhận rằng chúng ta vẫn còn nhiều việc phải làm, nhưng đó chính là lý do tại sao chúng ta có phương châm Ecclesia semper reformanda ("Giáo hội luôn cần được canh tân").

Điều này cũng được thể hiện rõ nét qua lễ phong chức phó tế trong tuần này dành cho các chủng sinh thuộc Học viện Bắc Mỹ (North American College) tại Rome. Mười tám chàng trai trẻ đã bước một bước áp chót trên hành trình tiến tới thiên chức linh mục trong một nghi thức phụng vụ đẹp đến nao lòng – một khung cảnh rất gần với những gì mà tôi tin là các Nghị phụ Công đồng Vatican II đã hình dung. Những "người phục vụ bàn thánh" mới này đã được trao "mệnh lệnh lên đường" qua bài giảng đầy lôi cuốn và sâu sắc của Đức Giám Mục Robert Barron.

Giáo hội tại Mỹ đã chứng kiến nhiều điều ngớ ngẩn, kỳ quặc và thậm chí là điên rồ sau Công đồng Vatican II; tôi biết điều này qua chính trải nghiệm đau thương của bản thân. Tôi gia nhập chủng viện khi mới 17 tuổi, chỉ ba tuần sau khi thông điệp Humanae vitae được ban hành.

Những năm tháng "đào tạo" linh mục (mà thực ra là "làm biến dạng" thì đúng hơn) ấy là quãng thời gian tồi tệ nhất trong đời tôi; đã có biết bao đêm tôi phải khóc thầm trước khi chìm vào giấc ngủ và thậm chí còn bị đuổi khỏi chủng viện khi chỉ còn ba tháng nữa là đến ngày thụ phong phó tế, chỉ vì bị coi là “cứng ngắc và thiếu linh hoạt, không phù hợp với sứ vụ trong Giáo hội thời hậu Công đồng”!

Khi Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II kế vị Thánh Phêrô, và sau đó là Đức Bênêđíctô XVI, tôi đã thấy những tia sáng le lói khiến tôi nghĩ rằng, cũng như Mô-sê, tôi sẽ chỉ được nhìn thấy Đất Hứa từ xa chứ không thể bước vào đó trước khi cuộc đời mình khép lại.

Tuy nhiên, những gì tôi chứng kiến gần đây lại khiến tôi tin rằng có lẽ mình thực sự có thể bước vào Đất Hứa ấy. Phải chăng Giáo hội tại đất nước chúng ta đang tiên phong mở đường cho công cuộc canh tân đích thực, đúng như tinh thần của Công đồng Vatican II “đích thực”?

Gần 175 năm trước, Đức Thánh Hồng Y John Henry Newman (vị Tiến sĩ Hội Thánh mới nhất của chúng ta) đã được mời giảng trong dịp khôi phục hàng giáo phẩm Công Giáo đầy trọng đại tại Anh. Ngài khẳng định đó là “sự khởi đầu của một Mùa Xuân thứ hai.” Khi bắt đầu loạt bài giảng cho tháng Năm năm 1874, Newman nhận định rằng tháng Năm “là tháng của những lời hứa, nếu chưa phải là tháng của sự viên mãn.” Cũng như vậy, mùa xuân chính là điềm báo và là lời hứa hẹn về mùa hè. Và Thiên Chúa luôn trung tín với những lời hứa của Người.

Trong nghi thức usus antiquior (nghi thức cổ truyền), linh mục cầu nguyện: Introibo ad altare Dei (“Tôi sẽ bước tới bàn thờ Thiên Chúa”). Và các tín hữu đáp lại: Ad Deum qui laetificat iuventutem meam (“Hướng về Thiên Chúa, Đấng mang lại niềm vui cho tuổi xuân tôi”).

Ước mong điều ấy lại trở thành hiện thực cho cả thế hệ cũ và thế hệ mới.