Giáo hoàng Leo XIV gặp gỡ các Hồng Y tại Hội trường Paul VI, Thành phố Vatican. Ảnh: Vatican Media.


Ed. Condon của tạp chí mạng The Pillar, ngày 09/01/2026, cho rằng: Các Hồng Y trên toàn thế giới đang tập trung tại Rome tuần này để tham dự công nghị Hồng Y bất thường của hội đồng Hồng Y, do Đức Giáo Hoàng Leo XIV triệu tập để đánh dấu sự khởi đầu năm đầu tiên trọn vẹn của ngài trên cương vị Giám mục Roma.

Trong những tháng kể từ cuộc bầu cử Đức Giáo Hoàng Leo, các Hồng Y, giám mục và nhân viên tòa thánh đã báo cáo rằng tân giáo hoàng đã chủ động quyết định kết thúc năm 2025 trước khi bắt tay vào bất cứ dự án lớn nào mang tính định hướng hoặc thay đổi.

Nhiều người thân cận trong Giáo triều cho biết Đức Giáo Hoàng Leo coi Năm Thánh là một thời điểm vô cùng quan trọng trong đời sống của Giáo hội, ngoài ra còn là một giai đoạn kế thừa của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, xứng đáng được tập trung đặc biệt trước khi bắt đầu một kỷ nguyên Leo năng động hơn.

Quyết định của Đứv Leo mở đầu năm 2026 bằng một công nghị bất thường — một thông lệ tham vấn mà vị tiền nhiệm của ngài phần lớn đã tránh — tự nó đã là một bước ngoặt hiển nhiên trong triều đại tân Giáo hoàng.

Nhưng, khi thế giới tiếp tục cố gắng đánh giá Đức Leo và vị trí của ngài so với vị tiền nhiệm, Đức Tân Giáo hoàng dường như đã chọn mở đầu năm 2026 bằng một cuộc thảo luận tập thể giữa các Hồng Y về chính chủ đề đó.

Theo tất cả các nguồn tin, công nghị dự kiến sẽ có các Hồng Y thảo luận, trước tiên theo nhóm nhỏ và kết thúc bằng một phiên toàn thể công khai, về các chủ đề chính để hỗ trợ Đức Leo trong trách nhiệm lãnh đạo Giáo hội, bao gồm quản trị hoàn cầu, phụng vụ và tính đồng nghị.

Bất cứ chủ đề nào trong ba chủ đề này đều có thể tạo ra những cuộc tranh luận sôi nổi, thậm chí gay gắt, giữa các Hồng Y — hầu như bất cứ lúc nào. Nhưng, khi Đức Leo bắt đầu nghiêm túc vạch ra con đường của ngài với tư cách là Giáo hoàng, ba vấn đề đó kết hợp lại dường như tóm tắt chính xác di sản chưa được giải quyết của vị tiền nhiệm.

Có vẻ hợp lý khi đặt câu hỏi liệu Đức Tân Giáo hoàng đã triệu tập các Hồng Y lại để thảo luận về cách kết thúc kỷ nguyên Phanxicô của Giáo hội cũng như cách bắt đầu kỷ nguyên Leo. Thật vậy, đó có thể là hai mặt của cùng một đồng tiền.



Gần như ngay từ khi Đức Giáo Hoàng Leo xuất hiện trên ban công nhìn ra Quảng trường Thánh Phêrô, các học giả và giám mục đã tranh luận về mức độ mà Đức Leo XIV có thể được coi hoặc hiểu như một kiểu Phanxicô II.

Về phần ngài, Đức Leo dường như rất muốn đặt mình vào vị trí phù hợp — nếu không phải là sự tiếp nối không thể phân biệt được — với Đức Phanxicô, ban hành văn kiện quan trọng đầu tiên vào mùa thu, phần lớn dựa trên một văn bản chưa hoàn chỉnh của Đức Phanxicô, và tránh bất cứ sự thay đổi lớn nào trong Giáo triều.

Đồng thời, có lẽ những cải cách lớn nhất của Đức Leo là những thay đổi tinh tế nhưng rõ rệt về giọng điệu và phong cách, mang lại sự trang trọng mới cho trang phục của Giáo hoàng và, trong khi vẫn tiếp tục tương tác tự nhiên với các nhà báo, đưa ra những phản hồi được cân nhắc kỹ lưỡng và lựa chọn cẩn thận đối với các vấn đề nóng hổi.

Vị Tân Giáo hoàng cũng đã lấy sự thống nhất trong Giáo hội làm điểm nhấn quan trọng ngay từ đầu trong các bài phát biểu, và đã tiếp kiến riêng các Hồng Y như Raymond Burke và Joseph Zen, những người gặp khó khăn khi gặp vị Giáo hoàng tiền nhiệm, đồng thời cũng tiếp đón những nhân vật có tầm ảnh hưởng không kém trong thời kỳ của Đức Giáo Hoàng Phanxicô như Cha James Martin, Dòng Tên.

Điều này không ngăn cản những kỳ vọng liên tục về một sự “đột phá lớn” nào đó sẽ xuất hiện, hoặc thông qua một cuộc bổ nhiệm hoặc thay thế quan trọng tại Vatican, hoặc một sự đảo ngược hoàn toàn chính sách quan trọng của Đức Giáo Hoàng Phanxicô — có lẽ không đâu rõ ràng hơn là về phụng vụ.

Sắc lệnh Traditionis custodes của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, hạn chế việc cử hành Thánh lễ theo Hình thức Ngoại thường, tiếp tục gây chia rẽ ở nhiều giáo phận, hoặc do sự thực thi quá khắt khe và áp đặt luật lệ ở một số nơi, hoặc do Tòa Thánh từ chối cho phép các giám mục địa phương có thể linh hoạt hơn trong việc dung hòa với các cộng đồng truyền thống.

Trong khi dư luận liên tục mong chờ Đức Giáo Hoàng Leo hoặc là tăng cường thực thi sắc lệnh này hoặc là bãi bỏ hoàn toàn, thì cho đến nay, ngài đã chọn cách tiếp cận tinh tế và khoan dung hơn, chỉ thị rằng các trường hợp miễn trừ và cho phép nên được Tòa Phụng vụ ban hành và gia hạn vượt xa những giới hạn nghiêm ngặt trước đây.

Đồng thời, cũng có những cuộc thảo luận mới về việc kết quả của một cuộc tham vấn các giám mục trên toàn thế giới về phụng vụ đã không được đưa vào – hoặc thậm chí dường như không được xem xét nhiều – trong sắc lệnh Traditionis custodes.

Tóm lại, quyết định của Đức Leo đưa vấn đề phụng vụ vào chương trình nghị sự của Hồng Y dường như được cố ý đưa ra để làm sáng tỏ những căng thẳng và chia rẽ xung quanh một trong những hành động đặc trưng và gây chia rẽ nhất của Đức Phanxicô.

Có lẽ để thể hiện sự thay đổi đáng kể trong dư luận về vấn đề này, văn phòng báo chí Vatican hôm thứ Tư đã thông báo rằng đa số các nhóm làm việc đã chọn thảo luận về các chủ đề sứ mệnh và tính đồng nghị— mặc dù điều này không có nghĩa là vấn đề phụng vụ sẽ không được nêu ra sau này.

Cách Đức Leo cuối cùng quyết định giải quyết những chia rẽ và căng thẳng xung quanh di sản phụng vụ của Đức Phanxicô vẫn là một câu hỏi bỏ ngỏ. Nhưng việc cho phép toàn thể Hồng Y đoàn họp mặt và thảo luận vấn đề, cũng như phản hồi những cảm xúc cá nhân và tập thể của họ trong một diễn đàn công khai, đã vượt xa những gì vấn đề này nhận được dưới thời Đức Phanxicô và cho phép Đức Giáo Hoàng có quyền tự do hành động đối với Traditionis theo cách có thể được coi là mang tính tập thể, trái ngược với việc một Đức Giáo Hoàng đảo ngược quyết định của Đức Giáo Hoàng khác chỉ vì cá tính và sở thích.

Và, ngay cả một số tiếng nói tiến bộ nhất trong thời đại Đức Phanxicô cũng đã công khai dự đoán một sự điều chỉnh “linh hoạt” hơn nhiều đối với Thánh lễ truyền thống trong tương lai, dường như Đức Giáo Hoàng Leo có thể giám sát một kiểu đảo ngược đối với một hành động mang tính biểu tượng của Đức Phanxicô trong khi vẫn nhận được sự ủng hộ của các Hồng Y trung thành nhất với Đức Phanxicô.

Nếu chỉ đánh giá một cách đơn giản và không xét đến bất cứ bối cảnh nào khác, kết quả đó thường sẽ làm rối loạn phân tích, ngoài một kết luận có vẻ hoài nghi rằng quan điểm của các Hồng Y về ngay cả những khía cạnh sâu xa nhất của đời sống Giáo hội cũng có thể thay đổi hoàn toàn với một Tân Giáo hoàng.



Nhưng trong bối cảnh của công nghị Hồng Y của Đức Leo, con đường đã rộng mở cho một điều đáng lưu ý hơn phát triển: một đánh giá dựa trên sự đồng thuận về một vấn đề gây tranh cãi gay gắt, tiếp theo là một hành động quan trọng của Đức Giáo Hoàng phù hợp với những cuộc thảo luận đó. Theo một cách nào đó, cách tiếp cận như vậy dường như mô phỏng chủ đề thứ hai trong các cuộc thảo luận của công nghị, và một phần quan trọng khác trong di sản của Đức Phanxicô: tính đồng nghị.

Kể từ khi Đức Phanxicô qua đời, các Hồng Y và giám mục trên khắp thế giới đã liên tục nhấn mạnh giá trị của tiến trình đồng nghị, vốn đã định hình nửa sau triều đại Giáo hoàng của Đức Phanxicô. Các giám mục từ khắp nơi trên thế giới, và từ khắp các lĩnh vực giáo hội học, đã nhất quán ca ngợi tính hữu ích và giá trị mục vụ của các cuộc thảo luận cởi mở, hợp tác ở các bình diện khác nhau của Giáo hội.

Nhưng, dù “tính đồng nghị” có thể được nhớ đến như một khẩu hiệu của thời đại Đức Phanxicô, di sản thực sự của chương trình đồng nghị vẫn khó xác định rõ ràng.

Các phiên họp của Thượng Hội đồng Giám mục tại Rome trong 10 năm qua liên tục gây tranh cãi và chia rẽ, với việc các đại biểu liên tục cố gắng tập trung sự chú ý vào các vấn đề về giáo lý đã được Giáo hội xác định hoặc thần học về các bí tích, trong khi những người khác phàn nàn về một quy trình bị thao túng, loại trừ hoặc giảm thiểu vai trò của những nhân vật bất đồng với ban lãnh đạo cấp tiến của Thượng Hội đồng.

Đồng thời, những cuộc thảo luận và chia rẽ tại Thượng Hội đồng hầu như không mang lại giải pháp nào — không có lập trường đồng thuận nào được đưa vào văn bản của Đại hội đồng cũng như không có tông huấn nào của Đức Giáo Hoàng kết thúc vấn đề.

Ngược lại, đến cuối Thượng Hội đồng về tính đồng nghị, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tự mình chấp nhận các văn kiện cuối cùng của Đại hội đồng, thực chất là ký tên mình vào những gì mà nhiều người cho là những cách xử lý mơ hồ và gây tranh cãi về các vấn đề như việc phong chức cho nữ giới mà không áp đặt ý kiến của mình lên chúng.

Ngược lại, dường như Đức Giáo Hoàng Leo đang sử dụng phiên họp Hồng Y tuần này để làm hình mẫu cho một hình thức đồng nghị khác, khuyến khích thảo luận huynh đệ về cả những vấn đề và chủ đề gây tranh cãi, như chính tính đồng nghị, nhưng được đặt trong khuôn khổ chức năng tham vấn rõ ràng của hội đồng Hồng Y.

Trong khi nhiều người đôi khi tự hỏi – hoặc thậm chí tuyên bố công khai – rằng tính đồng nghị có nghĩa là một cách tiếp cận kiểu nghị viện mới đối với các vấn đề của Giáo hội, thì phiên họp Hồng Y tuần này dường như đã làm hình mẫu cho một hình thức tham vấn khác, một hình thức diễn ra trực tiếp và rõ ràng hơn dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đức Giáo Hoàng và mang tính phổ quát hữu hình hơn thông qua sự tham gia của toàn thể hội đồng Hồng Y.

Có vẻ hợp lý khi kỳ vọng rằng hội đồng sẽ đưa ra một đánh giá thẳng thắn về kinh nghiệm đồng nghị trong vài năm qua. Điều này, đến lượt nó, có thể tạo cơ hội cho Đức Giáo Hoàng Leo tìm ra một phiên bản khả thi cho một “Giáo hội đồng nghị” có thể được ghi nhận là thuộc về tầm nhìn của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, ngay cả khi cuối cùng nó không giống lắm với kinh nghiệm đồng nghị trong thời đại của Đức Giáo Hoàng Phanxicô.



Dĩ nhiên, chủ đề bao quát của công nghị này nhằm mục đích nói về sự cai quản của Đức Thánh Cha đối với Giáo hội hoàn vũ, và hướng đi cũng như phong cách mà Đức Giáo Hoàng Leo lựa chọn để phát triển sự cai quản đó sẽ là điểm khác biệt quan trọng nhất, hoặc không, giữa ngài và vị tiền nhiệm của ngài.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô, bất chấp những lời lẽ thường mang tính phản luật lệ, đã chứng tỏ là một trong những nhà lập pháp năng suất nhất trong lịch sử giáo hoàng hiện đại, ban hành liên tục các luật mới, sửa đổi toàn bộ các phần của Bộ luật Giáo luật, và sửa đổi hoàn toàn các tông hiến cho các định chế như Giáo triều Rôma.

Những cải cách đó, như đã thấy trong sự nhầm lẫn đang diễn ra về cách Giáo hội định nghĩa và xử lý các trường hợp liên quan đến điều gọi là “người trưởng thành dễ bị tổn thương”, đôi khi khiến các nhà luật học giáo luật, các giám mục và các quan chức Vatican không hiểu rõ điều gì được yêu cầu ở ai trong các quy trình pháp lý.

Trên con đường đó, Đức Phanxicô nhận được danh xưng là vị giáo hòang sẵn sàng bỏ qua các chuẩn mực, thậm chí cả chuẩn mực của chính mình, khi ngài muốn.

Trong những trường hợp như của Cha Marko Rupnik, Giám mục Gustavo Zanchetta, Giám mục Juan Barros và linh mục bị tước chức Ariel Alberto Principi, guồng máy công lý của Giáo hội dường như bị đình trệ, hoặc thậm chí trật bánh hoàn toàn, khi có đủ lợi ích cá nhân của Giáo hoàng được đáp ứng.

Trong khi đó, các vị giám mục như Giám mục Daniel Fernández Torres và Giám mục Joseph Strickland bị cách chức một cách đột ngột mà không có bất cứ thủ tục pháp lý nào rõ ràng. Trong một số trường hợp, như việc vị Giáo hoàng tiền nhiệm đã loại bỏ một cách hữu hiệu ban lãnh đạo của Dòng Hiệp sĩ Malta, sự sẵn sàng thực thi quyền lực mà không cần thủ tục của Đức Phanxicô đã suýt gây ra các cuộc khủng hoảng ngoại giao thực sự cho Giáo hội.

Xét về di sản mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô để lại trong việc quản trị Giáo hội hoàn cầu, thật khó để tóm tắt hoặc mô tả mà không sử dụng các từ như "kịch tính", "tùy tiện" và "mơ hồ". Di sản này chắc chắn sẽ được các Hồng Y thảo luận trong tuần này và sẽ được truyền đạt lại cho Đức Giáo Hoàng Leo dưới một hình thức nào đó — mặc dù chính ngài cũng nhận thức được những vấn đề tương tự.

Nhưng, không giống như với phụng vụ hay khái niệm về tính đồng nghị, khó có thể thấy Đức Giáo Hoàng Leo có thể nhanh chóng hoặc toàn diện sửa chữa di sản của người tiền nhiệm mà không có một số đánh giá tiêu cực nào đó về nó.

Thay vào đó, Đức Giáo Hoàng Leo, với tư cách là một nhà luật học giáo hội và cựu bộ trưởng Bộ Giám mục, am hiểu hơn ai hết về một số vụ án nổi tiếng trong thời kỳ Đức Giáo Hoàng Phanxicô, có lẽ sẽ hy vọng rằng chính công nghị sẽ là một tín hiệu về cách ngài muốn cai trị. Sau khi khôi phục lại cuộc họp toàn thể của Hồng Y đoàn, vốn đã bị Đức Giáo Hoàng Phanxicô bỏ quên từ lâu, vị Giáo hoàng mới đã báo hiệu sự trở lại với các chuẩn mực định chế.

Việc Đức Giáo Hoàng Leo sẽ truyền đạt những ý tưởng của mình về một chuẩn mực mới trong quản trị Giáo hội hoàn cầu cho các Hồng Y trong tuần này đến mức nào và rõ ràng ra sao vẫn còn phải chờ xem. Nhưng điều chắc chắn là quyền lực của Giáo hoàng – như Đức Phanxicô đã chứng minh – được định nghĩa bởi hành động cũng như lời nói. Việc khôi phục niềm tin hoàn cầu vào luật lệ của Giáo hội sẽ mất nhiều năm, và phần lớn là kết quả của việc giải quyết các vụ việc một cách rõ ràng và mạch lạc.

Điều dường như đã rõ ràng là Đức Giáo Hoàng Leo đã hiểu rằng khi định nghĩa bản thân và triều đại giáo hoàng của mình, ngài nhất thiết cũng sẽ định nghĩa triều đại của vị tiền nhiệm.

Có thể trong những năm tới, người ta sẽ có xu hướng hỏi liệu Đức Phanxicô có thực sự mang tinh thần của Đức Giáo Hoàng Leo hay không, hơn là hỏi liệu Đức Giáo Hoàng Leo có phải là một phiên bản nào đó của Đức Phanxicô II hay không.