Người dân Nga đã bị chiến tranh bào mòn đáng kể. Giống như người già, những người vẫn còn tràn đầy sức sống đã vội vã tìm nơi trú ẩn trong những bong bóng thông tin và xã hội thoải mái, nhận thức được rằng họ đã mất đi bất cứ triển vọng nào về một cuộc sống bình thường.

Đó là nhận định của Stefano Caprio, trong mục Thế giới Nga của tập san AsiaNews ngày 11 tháng 7 năm 2026. Ông cho biết:
Nhà tâm lý học Kira Merkun phát biểu trên Đài phát thanh Svoboda rằng “chiến tranh là sự lão hóa nhanh chóng”. Bất chấp khát vọng về tuổi trẻ vĩnh cửu được tuyên bố vào những năm 2000, người dân Nga đã bị bào mòn đáng kể trong “chiến dịch quân sự đặc biệt”, từ bỏ sự phản kháng của tuổi trẻ.
Merkun nhắc lại “Chiến dịch Sodom và Wallachia”, được mô tả cách đây một trăm năm trong một cuốn tiểu thuyết của Mikhail Bulgakov, trong đó Giáo sư Preobrazhensky đã sử dụng một cách mỉa mai buồng trứng khỉ để trẻ hóa một nhóm khách hàng đáng ngờ trong thời kỳ thay đổi chế độ; trong số khách hàng của ông có những người có thể cấp “giấy chứng nhận cuối cùng”, nhưng điều này cũng không cứu được họ.
Xét cho cùng, ngay cả những “kẻ mơ mộng ở Kremlin” cũng dùng chiến tranh như một chất kích thích giúp tăng cường adrenaline; chất gây nghiện của chiến tranh đã làm mới dòng máu của họ, nhưng nó sẽ đẩy nhanh cái chết của họ. Cuộc sống dưới ảnh hưởng của chiến tranh không kéo dài hơn chính cuộc chiến.
Một học giả khác được Merkun trích dẫn, giáo sư Liên Xô Vladimir Frolkis – một nhà lão khoa học [gerontologist] nổi tiếng thế giới và là thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học New York, người đã dành cả cuộc đời mình ở Kyiv – tin rằng lão hóa là một cái chết chậm chạp do căng thẳng gây ra. Lão hóa và căng thẳng có cơ chế và hậu quả tương tự, một hiện tượng được gọi là “hội chứng lão hóa do căng thẳng”.
Sự kỳ vọng áp đặt về ngày tận thế và sự chắc chắn được lên thiên đường, được Vladimir Putin khơi mào nhiều lần, đang biến đổi cuộc sống của người lao động Nga ở hậu phương thành trạng thái “lão hóa nhanh”, với các triệu chứng tâm lý bao gồm bi quan, trầm cảm, lo âu và chứng sợ xã hội, cũng như rụng tóc, rụng răng và suy giảm trí thông minh và trí nhớ.
Căng thẳng do chiến tranh gây ra có thể được chủ động đối phó hoặc tránh được. Hoặc người ta có thể thích nghi, cam chịu nếu lựa chọn khác là cái chết. Con người thích nghi với căng thẳng như một điều bình thường, trở thành những kẻ gây hấn theo nguyên tắc (“Tôi sẽ giết hết bọn chúng!”) hoặc nạn nhân (“Tôi biết làm sao được?”). Sự phân tầng dựa trên kỳ vọng vai trò tạo ra một môi trường căng thẳng và độc hại, với nguy cơ cao gặp phải sự hung hăng ở những nơi không ngờ tới nhất. Sự hung hăng vô thức còn đáng sợ hơn sự hung hăng có ý thức, được kiểm soát.
Lão hóa nhanh chủ yếu ảnh hưởng đến những người đã chọn một hình thức “bất lực học được [learned helplessness]” với hy vọng được tha thứ khỏi số phận nghiệt ngã thông qua sự phục tùng, từ đó trở nên vô hình trước con mắt giám sát của nó.
Chiến lược của nạn nhân là mua chuộc để thoát khỏi, rút lui, dần dần từ bỏ cuộc sống và thành tựu của mình để đổi lấy một khoảng thời gian bình yên ngắn ngủi. Giống như người già, những người Nga vẫn còn khỏe mạnh đã vội vã ẩn náu trong những bong bóng thông tin và xã hội thoải mái để tiếp tục sống trong sự ngu dốt hạnh phúc.
Để có thể nở nụ cười trở lại, cần có sự tương tác xã hội chân thành. Người lớn tuổi được khuyên nên tự đi mua sắm, trong im lặng, chống lại những người thân cố gắng đặt đồ ăn giao tận nhà cho họ, như trường hợp trong đại dịch. Những khuôn mặt vô cảm trên đường phố thật đáng sợ; sự thiếu phản ứng từ người bạn đang nói chuyện cùng thật đáng thất vọng.
Phải chăng đây là kết quả của một “vòng xoáy im lặng” – mong muốn che giấu cảm xúc và suy nghĩ thật sự để làm hài lòng số đông? Và ai có thể biết số đông nghĩ gì nếu chính họ cũng im lặng? Trước đây người ta trò chuyện thoải mái; giờ đây họ soi xét kỹ lưỡng, phán xét căng thẳng và tìm kiếm lỗi lầm.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng ngay cả sau 60 năm, trẻ em thời chiến vẫn thể hiện sự ngờ vực sâu sắc, bất kể đất nước họ thắng hay thua. Họ sống cả đời như thể họ đã già, sẵn sàng từ bỏ niềm vui để đổi lấy sự bình yên cá nhân.
Trong chiến tranh, thanh thiếu niên phát triển nhận thức về một “thế giới nguy hiểm” và những rào cản tâm lý trong giao tiếp. Trong điều kiện bất lợi, họ trở nên hung hăng và thù hận, và ngày càng băn khoăn làm thế nào để đối phó với những kẻ bắt nạt, bạn cùng lớp và giáo viên.
Hầu hết người Nga vẫn không nhận ra mình là nạn nhân của chiến trường nội địa, họ tìm kiếm nguyên nhân bất hạnh của mình trong những mối tình không hạnh phúc, bầu không khí thù địch và kỹ thuật di truyền. Cảm giác lo lắng và tội lỗi về những bất hạnh chung tìm kiếm lối thoát, vang vọng những trải nghiệm thất bại trong quá khứ.
Những "nạn nhân" mắc chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương không phải vì chiến tranh đang diễn ra, mà vì những xung đột cha mẹ - con cái cũ và những bi kịch tình ái thời trẻ. Những người trong quá khứ bị họ bôi nhọ và đổ lỗi: cha mẹ, người yêu cũ, bạn bè cũ và đồng nghiệp mà họ từng có xung đột.
Chiến tranh đã phơi bày một vực sâu của những tổn thương cá nhân chưa được giải quyết, với những hậu quả tàn khốc. Nỗi kinh hoàng về cái chết cận kề khiến mọi người già đi, và người già trở nên tàn nhẫn.
Cũng giống như trong bộ phim kinh dị Liên Xô năm 1987 *Mười Chú Bé Da Đỏ*, do Stanislav Govorukhin đạo diễn - bộ phim chỉ đạt được thành công vang dội trong thời kỳ chiến tranh Nga ở Afghanistan – cốt truyện đã trở thành một chủ đề lặp đi lặp lại trong cuộc sống ở hậu phương Nga.
Các nhân vật chính bị mắc kẹt với một kẻ điên trên một hòn đảo xa xôi cách đất liền. Câu chuyện khai thác nỗi sợ hãi sâu sắc nhất của người Nga, và khát vọng của người dân thời hậu Xô Viết muốn đối phó với những kẻ điên và những tên lừa đảo đủ loại, để theo đuổi lợi nhuận, danh vọng và đặc quyền.
Trong câu chuyện, một vị thẩm phán già trải nghiệm chiến thắng cuối cùng, vĩ đại bằng cách đưa mười người được chọn lọc, bao gồm cả chính mình, lên thế giới bên kia.
Đó là ảo tưởng điển hình của một người đàn ông già, ở cả hai phía bức tường Kremlin: nhốt tất cả những người quan trọng cùng với mình và đi thẳng lên thiên đường hoặc xuống địa ngục – có gì khác biệt? Những người khác đằng nào cũng sẽ chết.
Cảnh then chốt và câu nói mang tính biểu tượng “Đây là kết thúc, và các người biết điều đó!” xuất phát từ miệng của vị tướng già, MacArthur, do Mikhail Gluzsky thủ vai.
Vì bộ phim có sự góp mặt của các diễn viên nổi tiếng, các thành viên gia đình và những người thân yêu, Gluzsky đã khắc họa vị tướng dân sự đầu tiên – và cho đến nay là duy nhất – như một “người của chúng ta” trong điện ảnh Nga, người cuối cùng hối hận cay đắng, chấp nhận phán quyết như một sự giải thoát.
Khi tâm trí không thể xử lý trải nghiệm hiện tại, sự suy tư bị thu hẹp lại thành việc khơi lại những ký ức tồi tệ, lục lọi những kỷ vật cũ.
Đây là điều xảy ra với những người già cô đơn, những người cố gắng khôi phục công lý trong tâm trí, muộn màng bảo vệ quyền lợi của mình: những hồi ức ám ảnh, những lời độc thoại lặp đi lặp lại mỗi tối, những cuộc trò chuyện định mệnh chưa từng diễn ra và sẽ không bao giờ diễn ra, với những người đã ra đi từ lâu, ở rất xa, đã khuất.
Chiến tranh không chỉ là cái cớ để khơi lại sự oán hận dân tộc Nga cổ điển, mà còn là cái cớ cho sự thoái hóa cá nhân của những công dân đã mất đi triển vọng về một cuộc sống bình thường, ngay cả một cuộc sống chỉ có ý nghĩa mơ hồ.
Sự sụp đổ của cảm giác về tương lai được hầu hết mọi người coi là ngày tận thế đang đến gần, một cái cớ để trả thù những kẻ đã làm hại họ.
Đôi khi điều này giống như một điệu nhảy du mục với màn kết thúc hoành tráng, khi mọi người cố gắng giả vờ chiến thắng để tránh chịu trách nhiệm về những gì họ đã làm trong đời.
Khi được hỏi câu hỏi chẩn đoán: “Bạn nghĩ gì khi nhìn vào gương?”, các bệnh nhân người Nga bắt đầu trả lời, “Chúng tôi không có gương” hoặc “Tôi không nhìn vào chính mình”.
Họ bắt đầu né tránh câu hỏi, hoặc thậm chí giấu gương sau tủ ngăn kéo hoặc quay chúng vào tường, như thể có một người chết trong nhà. Gương là con mắt bên ngoài, nhìn chằm chằm đầy trách móc, làm nhục; nó là nguồn gốc của sự đau khổ.
Một cặp vợ chồng trẻ tuyên bố rằng gương là thứ thô tục, thứ chỉ những người thiếu tự tin mới dùng. Người ta cho rằng chúng đã bị loại bỏ khỏi Điện Kremlin thậm chí còn sớm hơn, được thay thế bằng những màn hình trắng chiếu những đoạn ghi hình cũ.
Qua lời thú nhận của người dân, họ cũng bắt đầu vô hiệu hóa chuông cửa và hệ thống liên lạc nội bộ, để cảm thấy bất khả xâm phạm ít nhất là trong chính ngôi nhà của mình, và những người giao hàng đang phát điên vì không thể giao quà hay bó hoa cho một người nào đó có vẻ lập dị trong ngày sinh nhật.
Những người tự nhốt mình ở nhà sẽ phát triển hội chứng Diogenes: mất đi các kỹ năng giao tiếp và vệ sinh cơ bản, bao gồm cả thói quen rửa mặt và đánh răng. Và tại sao phải làm vậy?
Không ai có thể nhìn thấy họ – bằng chứng gián tiếp cho điều này là sự sụt giảm lượng tiêu thụ chất tẩy rửa. Tình trạng nghèo đói ngày càng gia tăng đã làm tăng thêm sự khắc khổ cho tất cả những bất hạnh của người Nga; nhưng trên hết, đó là sự hỗn loạn trong tâm trí họ.
Khi nước Nga trở lại thời kỳ huy hoàng, nó sẽ hiện ra trước thế giới như một người phụ nữ hoang dã, cay đắng, luộm thuộm và già nua, và đó chắc chắn sẽ là kết thúc.